Thời Hoa Lửa (17)
Tháng Năm, phượng lại nở đỏ rực trên con đường làng dẫn ra bến sông. Mỗi khi gió thổi, từng cánh hoa rơi như những giọt máu nhỏ, thấm xuống mặt đất nâu ẩm. Mùa hè năm 1968 – mùa hè của chia ly, của những trái tim rực cháy trong thời hoa lửa. Ở làng Vĩnh An, một làng nhỏ bên sông Gianh, nơi những triền cát trắng nối nhau chạy dài ra biển có một cô nàng tên là Mai. Cô là con gái duy nhất của một gia đình nông dân, vừa hiền lành, vừa gan góc. Khi còn học cấp ba, Mai có niềm đam mê vô cùng tận đối với những con chữ, cô bé thường dành thời gian ngồi dưới gốc phượng già trước cổng trường, viết những câu thơ về tuổi trẻ và mùa hạ. Anh Lâm, chàng trai làng bên, cậu vừa tròn hai mươi. Anh cao, gầy, da sạm nắng, đôi mắt đen láy. Cả hai đều có một mối quan hệ bạn bè thân thiết, quý nhau cực kì, nhưng Lâm học dở lớp 10 thì xung phong vào đội thanh niên xung phong mở đường Trường Sơn...
“Anh đi, bao giờ trở lại?” Giọng Mai nhỏ như gió dưới nắng hạ khẽ hỏi anh, buồn rõ.
“Ngày nào phượng nở, anh sẽ về.” Lâm cười, bàn tay siết chặt bàn tay cô mà trấn an. Cả hai đều biết, cuộc chia ly này sẽ có thể là lần cuối, nhưng không một ai nói ra vì sợ phải luyến tiếc mà nán lại. Y như rằng, họ chẳng kịp nói gì thêm, chỉ có một đóa phượng nhỏ được Lâm ép vào quyển sổ học trò, mang theo lên đường;
Từ khi Lâm đi, Mai vừa dạy bình dân học vụ, vừa tham gia đội dân công hỏa tuyến. Cô gùi gạo, băng rừng, vượt suối mang lương thực ra tiền tuyến. Ðêm nằm trong hầm, tiếng bom nổ dội về như sấm. Nhưng giữa rừng, Mai vẫn viết thư cho anh, những bức thư không tem, không địa chỉ, chỉ ghi:
“Gửi anh – người đang ở nơi lửa đạn.”
Cô kể chuyện mùa lúa quê mình, chuyện mấy đứa trẻ mồ côi mẹ, chuyện những người con gái cõng thương binh qua suối. Có khi, cô chỉ viết một dòng:
“Phượng lại nở rồi, anh à.”
Không biết những lá thư có đến tay Lâm hay không, chỉ biết rằng đêm nào, nhìn hoa phượng rơi trên hầm đất, Mai lại thấy tim mình ấm lên một chút, như thể anh vẫn ở đâu đó, cùng cô trong khoảng trời đỏ rực. Ở bên kia chiến tuyến, Lâm cùng đồng đội mở đường Trường Sơn. Họ đi trong mưa bom, lửa đạn, đêm hành quân chỉ nghe tiếng dép cao su lẹp xẹp và tiếng gió hú trên đỉnh núi. Có lần, đơn vị anh bị phục kích. Anh bị thương ở vai, vẫn cố gắng dìu đồng đội rời khỏi vùng bom. Trong những giờ phút giữa ranh giới sống chết, anh lấy từ túi áo ra đóa phượng ép khô, cười khẽ:
“Phượng vẫn đỏ lắm, Mai à. Dù ở giữa rừng, anh vẫn thấy mùa hạ.”
Rồi anh viết vội vài dòng gửi theo một người bạn hậu phương:
“Nếu anh không về, nói với Mai rằng anh không tiếc gì tuổi trẻ. Anh chỉ tiếc chưa kịp thấy em trong tà áo dài trắng, giữa ngày phượng nở.”
Sau đó, đơn vị anh mất liên lạc. Một chiều cuối hạ, khi tiếng ve vừa ngừng kêu, người liên lạc mang đến làng một túi di vật. Trong đó có một cuốn sổ nhỏ, bìa đã cháy sém, lấm tấm bùn đất, nhàu nát do được ôm chặt vào lòng. Mai nhận ra ngay nét chữ quen thuộc của Lâm. Không có thư nào gửi riêng cho cô, chỉ vài trang nhật ký ngắn với những dòng chữ run run, không mạch lạc viết bằng máu:
“Ngày 15 tháng 7 năm 1969.
Trời mưa, bom rơi dày. Anh em ngã xuống nhiều.
Mai ơi, nếu có kiếp sau, anh vẫn sẽ chọn con đường này, vì Tổ quốc, vì em, vì mùa hoa phượng đỏ.”
Mai gấp sổ lại, nước mắt rơi ướt cả trang giấy. Ngoài kia, hoa phượng vẫn rực cháy. Mỗi cánh hoa rơi như một ngọn lửa nhỏ, đốt cháy cả chiều quê tĩnh lặng.;
Hòa bình đến, làng Vĩnh An chỉ còn lại những người mẹ tóc bạc. Mai trở về dạy học, mỗi sáng đi qua gốc phượng cũ, cô lại dừng lại thật lâu. Cây phượng ngày xưa nay đã cao lớn, rễ vươn ra ôm lấy bờ tường trường. Dưới gốc cây, cô dựng một tấm bia nhỏ, khắc dòng chữ: “Tưởng nhớ những người đã hóa thân trong thời hoa lửa.”
Mỗi khi hoa rơi, học trò lại thấy cô Mai ngồi lặng, ánh mắt xa xăm, nụ cười hiền. Không ai biết trong tim cô vẫn có một người, mãi mãi dừng lại ở tuổi hai mươi.



