"Thời hoa lửa" ấy
Trong những ngày tháng Hai biên thùy mịt mù khói súng, có một người con của bản Mông đã viết nên huyền thoại bằng máu và lòng trung kiên. Không chỉ là người giữ "lửa" cho bếp ăn của đơn vị, Anh hùng Lừu A Phừ đã trở thành một "lá chắn thép" trên đỉnh Sì Lờ Lầu trong giờ khắc sinh tử của Tổ quốc.
KÝ ỨC SÌ LỜ LẦU: LỜI THỀ TRÊN ĐỈNH GIÓ
Trong những ngày tháng Hai biên thùy mịt mù khói súng, có một người con của bản Mông đã viết nên huyền thoại bằng máu và lòng trung kiên. Không chỉ là người giữ "lửa" cho bếp ăn của đơn vị, Anh hùng Lừu A Phừ đã trở thành một "lá chắn thép" trên đỉnh Sì Lờ Lầu trong giờ khắc sinh tử của Tổ quốc.
Khúc dạo đầu bên bếp hoàng cầm
Vào một chiều biên giới, khi mây mù còn vắt ngang đỉnh núi. Nhấp ngụm rượu ngô cay nồng, người cựu binh già Lừu A Phừ bắt đầu kể, giọng trầm đục như tiếng đại ngàn:
"Ngày ấy, đơn vị tôi đóng quân tại Đồn 1, miền đất Sì Lờ Lầu xa xôi. Tôi làm anh nuôi, cái nghề mà người ta bảo là 'hậu phương của tiền tuyến'. Sáng sáng, khi sương còn chưa tan trên ngọn cỏ, tôi đã gùi trên vai hy vọng của anh em chiến sĩ.
Đất Lai Châu lúc đó khó khăn lắm, cái đói cái rét cứ chực chờ. Tôi lội suối, băng rừng, hái từng ngọn măng, tìm từng nắm rau dại. Có những lúc săn được con thú hay nuôi thêm được đàn lợn, nhìn anh em ăn ngon miệng để có sức cầm súng, tôi thấy lòng mình vui hơn cả khi bản làng vào hội. Với tôi, bát cơm đầy lúc ấy chính là vũ khí, là sức mạnh để giữ vững biên cương."
48 giờ trong bão lửa
Giọng ông bỗng đanh lại, đôi mắt rực sáng như thể tiếng pháo của ngày 17/2/1979 vừa mới dội về:
"Sáng hôm đó, bầu trời Sì Lờ Lầu không còn màu xanh. Pháo địch bắn như xới tung từng tấc đất. Quân xâm lược tràn sang đông như kiến cỏ, tiếng giày đinh và tiếng gào thét vang cả thung lũng.
Tôi buông chiếc môi múc canh, nắm chặt khẩu súng đã nạp đầy đạn. Lệnh truyền đi: 'Tổ Lừu A Phừ lên chốt giữ điểm cao!'. Từ một anh nuôi chỉ quen với khói bếp, tôi cùng đồng đội lao vào khói súng. Giữa trận địa mịt mù, tôi thấy anh em mình ngã xuống. Một mảnh pháo găm thẳng vào mặt, máu chảy ròng ròng xuống cằm, cay xè cả mắt. Rồi một viên đạn nữa xuyên qua tay.
Đau chứ! Nhưng cái đau của cơ thể không bằng cái uất hận khi thấy đất đai cha ông bị giày xéo. Cả tổ hy sinh gần hết, chỉ còn mình tôi cơ động giữa các hố cá nhân. Tôi bắn phát một, rồi lại di chuyển, đánh lừa địch rằng ta vẫn còn quân số đông. Một mình tôi đối mặt với những đợt sóng người, trong đầu chỉ còn duy nhất một ý niệm: Không được lùi dù chỉ một bước!"
Khúc tráng ca sau làn đạn
"Khi nhận lệnh rút để bảo toàn lực lượng, nhìn đồng đội nằm đó, lòng tôi như thắt lại. Tôi không thể để anh em ở lại với đất lạnh kẻ thù. Bằng bàn tay còn lành lặn và đôi vai đã quá quen với sức nặng của gùi rau rừng, tôi dìu từng người, cõng từng thương binh băng qua những khe sâu, hẻm đá.
Máu của tôi hòa cùng máu của đồng đội thấm đẫm tấm áo chiến sĩ. Chúng tôi đi trong tiếng pháo cầm canh, đi bằng bản năng của người con núi rừng và bằng ý chí của người lính Công an nhân dân vũ trang. Cuối cùng, tôi cũng đưa được anh em về nơi an toàn khi trời sập tối.
Vĩ thanh của người anh hùng
Ngày 19/12/1979, cái tên Lừu A Phừ vang lên trang trọng trong lễ tuyên dương Anh hùng. Nhưng với ông, phần thưởng lớn nhất không phải là tấm huy chương trên ngực áo, mà là sự bình yên của dải biên cương Lai Châu hôm nay.
Bài học của "Thời hoa lửa" ấy vẫn còn vẹn nguyên giá trị: Khi Tổ quốc cần, người anh nuôi cũng là một mãnh hổ. Hình ảnh người chiến sĩ dân tộc Mông gan dạ ấy mãi là một biểu tượng bất tử, rực cháy như ngọn lửa giữa đêm đông biên thùy.



