Khác

THỜI HOA LỬA Ngày Ấy, Tôi Là Người Lính Quân Y

Lâm Đồng22/08/2026Nguyễn nữ Hoàng Ánh (Đắk Sắk)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Chiều hôm ấy, tôi ngồi đối diện bác Vi Văn Thuần, nghe bác kể về những năm tháng đã đi qua từ rất lâu.

 

Bác ngồi trầm ngâm một lúc, đôi mắt hướng về phía xa. Có những câu chuyện tưởng rằng thời gian đã phủ bụi lên tất cả, nhưng chỉ cần nhắc đến, ký ức lại ùa về như mới hôm qua.

 

Bác bảo:

 

“Ngày ấy còn trẻ… chiến tranh thì gian khổ, nhưng anh em đồng đội thương nhau lắm… chỉ mong sau mau hết chiến tranh để về với mẹ”

 

Rồi bác bắt đầu kể.

 

Bác  Vi Văn Thuần, sinh ngày 29 tháng 9 năm 1952,năm 1973, khi vừa bước sang tuổi đôi mươi, bác lên đường nhập ngũ, được biên chế vào C20, Trung đoàn E270, Quân khu 4, làm chiến sĩ quân y.

 

Là quân y, bác không trực tiếp lao ra trận địa như những người lính chiến đấu, nhưng công việc của bác vẫn luôn gắn với tiếng pháo, tiếng súng và những giờ phút  chạy đua với  sinh tử.

 

 

Nhiệm vụ của bác là trực chiến tại hầm, sẵn sàng tiếp nhận những người lính bị thương được đưa về từ trận địa. Có khi vừa nghe tiếng pháo dội xuống, mọi người đã phải lập tức chuẩn bị. Có khi đồng đội vừa được đưa vào hầm, trên người đã đầy thương tích, máu thấm đỏ cả quần áo.

 

Bác kể, những lúc ấy chẳng ai còn nghĩ đến chuyện sợ hãi.

 

“Thấy đồng đội bị thương là phải cứu trước đã.”

 

 

Chiến trường khi ấy chủ yếu ở khu vực Tây Nam, từ Huế trở ra. Những người lính ngày đêm sống trong điều kiện khắc nghiệt, đối mặt với bom đạn và luôn phải sẵn sàng cho những tình huống bất ngờ.

 

Trong rất nhiều trường hợp cấp cứu mà bác từng trải qua, có một người đồng đội mà bác nhớ mãi.

 

Hôm ấy, đồng chí Cầm Bá Cớn bị thương rất nặng. Mảnh đạn găm vào người, cộng thêm sức ép của pháo khiến toàn thân bị thương. Khi được đưa về đến hầm, máu đã chảy đỏ cả người.

 

Bác Thuần kể đến đây thì im lặng một lúc.

 

Có lẽ dù đã hàng chục năm trôi qua, hình ảnh người đồng đội năm ấy vẫn còn ở đâu đó trong ký ức.

 

Ngay lúc ấy, chẳng có thời gian để nghĩ ngợi nhiều. Những người lính quân y lập tức lao vào sơ cứu. Cầm máu, xử lý những vết thương có thể xử lý, rồi nhanh chóng tìm cách đưa đồng chí Cớn về tuyến sau.

 

Trong chiến tranh, đôi khi khoảng cách giữa sự sống và cái chết chỉ được tính bằng từng phút.

 

Và những người lính quân y chính là những người phải chạy đua với từng phút ấy.

 

Bác kể tiếp rằng, điều khiến bác nhớ nhất sau những năm tháng chiến trường không chỉ là tiếng pháo hay những lần cứu chữa thương binh.

 

Đó là tình đồng đội.

 

Những người lính sống cùng nhau, chiến đấu cùng nhau, chia sẻ với nhau từng bữa cơm, từng phút nghỉ ngơi. Có những lúc gian khổ tưởng như không thể vượt qua, nhưng chỉ cần nhìn sang bên cạnh thấy đồng đội vẫn còn đó, mọi người lại động viên nhau cố gắng.

 

Và giữa những ngày tháng xa nhà ấy, có một người bác luôn nhớ.

 

Mẹ.

 

Bác nói, ở chiến trường, nhớ nhà là chuyện không thể tránh khỏi. Nhưng người bác nhớ nhất vẫn là mẹ.

 

Tôi hỏi bác, ngày ấy có mong trở về không?

 

Bác cười.

 

“Có chứ. Ai mà chẳng mong về.”

 

Bác còn có một lời hẹn.

 

Bác đã hẹn với người con gái của mình rằng sau hai năm sẽ trở về để kết hôn.

 

Giữa chiến trường đầy bom đạn, lời hẹn ấy có lẽ giản dị vô cùng. Nhưng với một người lính trẻ, đó lại là một lý do để mong ngày mai, để hy vọng rằng mình sẽ trở về nguyên vẹn sau những tháng ngày chiến đấu.

 

Rồi chiến tranh kết thúc.

 

Sau năm 1975, bác được điều lên các chốt điều dưỡng. Những người lính từng sống giữa tiếng pháo giờ mới có những phút giây thực sự cảm nhận được niềm vui của ngày hòa bình.

 

Bác nhớ nhất một kỷ niệm: cùng anh em đồng đội ăn mừng sau năm 1975.

 

Không còn những tiếng pháo của chiến trận. Không còn cảnh mỗi người phải căng mình chờ đợi những đợt tấn công.

 

Chỉ còn những người lính ngồi bên nhau.

 

Họ cười, họ nói chuyện, họ ăn cùng nhau.

 

Một niềm vui rất bình dị, nhưng có lẽ với những người đã bước qua chiến tranh, đó là một trong những niềm vui lớn nhất cuộc đời.

 

Tôi ngồi nghe bác kể mà bất giác nghĩ: Có lẽ điều quý giá nhất mà chiến tranh để lại trong ký ức của những người lính không phải là những trận đánh, mà là những con người đã cùng họ đi qua những năm tháng ấy.

 

 

Đến tháng 10 năm 1977, bác Thuần ra quân.

 

Bác trở về với cuộc sống đời thường, khép lại những năm tháng quân ngũ.

 

Nhưng khi bác kể, tôi nhận ra rằng có những cuộc chiến dù đã kết thúc từ rất lâu, nhưng vẫn sống mãi trong ký ức của người từng trải qua nó.

Bác còn cho tôi xem những kỷ vật ngày còn trong quân ngũ, nhìn kỷ vật còn mới tinh đã đủ hiểu rằng bác nâng niu và gìn giữ và nó quý đến nhường nào.

Bác Thuần đã đi qua tuổi trẻ của mình như thế.

 

Một tuổi trẻ có bom đạn, có mất mát, có những người đồng đội không thể nào quên.

 

Nhưng cũng có tình yêu, có niềm tin, có tình đồng chí và một niềm mong mỏi giản dị: được sống, được trở về và được gặp lại những người mình thương yêu.

 

Đó là câu chuyện của một người lính quân y.

 

Và cũng là câu chuyện về một thế hệ đã gửi lại những năm tháng đẹp nhất của đời mình cho đất nước.

 

Một thời hoa lửa – đã đi qua, nhưng chưa bao giờ thực sự biến mất.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn