THỜI HOA LỬA TRÊN QUÊ HƯƠNG HẢI CHI ANH HÙNG
Ba Chẽ – mảnh đất nằm giữa trùng điệp núi rừng, khe suối và những con sông uốn lượn – từ bao đời nay đã là một vùng đất đặc biệt. Địa thế hiểm trở, rừng núi bạt ngàn vừa che chở, vừa thử thách con người. Nơi đây án ngữ tuyến hành lang chiến lược nối vùng mỏ Hạ Long – Cẩm Phả với miền Đông Bắc, giữ vai trò như một vành đai bảo vệ khu mỏ và cửa biển quan trọng của Tổ quốc.
Những năm 1940–1945, khi cả nước sục sôi chuẩn bị cho cuộc tổng khởi nghĩa giành độc lập, nhân dân Ba Chẽ vẫn đang phải chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt, cái đói, cái rét, và sự áp bức bóc lột nặng nề của thực dân, phong kiến. Ngày 2/9/1945, khi cả dân tộc vỡ òa trong niềm vui độc lập, thì ở vùng rừng núi Hải Chi – tên gọi Ba Chẽ khi ấy – cuộc đấu tranh giành chính quyền vẫn còn vô cùng gian nan.
Sau Cách mạng Tháng Tám, hiểm họa chưa dừng lại. Ngoài tàn dư thực dân Pháp, quân Tưởng từ bên kia biên giới tràn sang, kéo theo bọn Việt Cách phản động, ra sức chống phá chính quyền cách mạng non trẻ. Ba Chẽ trở thành điểm nóng, nơi các thế lực thù địch tìm mọi cách lôi kéo, chia rẽ, đàn áp nhân dân.
Giữa những ngày sóng gió ấy, ngọn lửa cách mạng vẫn âm ỉ cháy và được thắp sáng bởi những con người kiên trung. Một trong những người con ưu tú ấy là đồng chí Trần Ngôn Chi, người mà nhân dân và lịch sử mãi gọi bằng cái tên thiêng liêng: Hải Chi.
Sinh năm 1919 tại Hải Phòng, Hải Chi sớm giác ngộ cách mạng từ những ngày làm công nhân nhà máy. Từ các cuộc bãi công đòi quyền sống, quyền làm người, đồng chí bước vào con đường cách mạng với tất cả nhiệt huyết của tuổi trẻ. Bị bắt, bị tù đày, bị tra tấn dã man nơi ngục tối Hỏa Lò, nhưng ý chí của người chiến sĩ ấy chưa từng khuất phục. Vượt ngục năm 1945, Hải Chi lại lao vào hoạt động, nhận những nhiệm vụ đầy hiểm nguy ở vùng biên giới Đông Bắc.
Trên đường ra Hải Ninh nhận nhiệm vụ Bí thư Tỉnh bộ Việt Minh, đoàn cán bộ bị bọn phản động bắt giữ trên Vịnh Hạ Long. Trước họng súng quân thù, Hải Chi vẫn hiên ngang, bình thản, động viên đồng đội giữ vững niềm tin. Tiếng hô “Việt Nam độc lập muôn năm!” vang lên giữa biển trời Đông Bắc đã khắc sâu vào lịch sử như một lời thề bất tử. Đồng chí ngã xuống, nhưng tinh thần Hải Chi thì còn mãi.
Tháng 10/1946, chính quyền cách mạng ở Ba Chẽ chính thức được thành lập. Nhân dân đã lấy tên Hải Chi đặt cho huyện – như một lời tưởng nhớ, tri ân người chiến sĩ đã hiến trọn đời mình cho cách mạng. Từ đây, Ba Chẽ trở thành căn cứ địa vững chắc của tỉnh Hải Ninh, là nơi Tỉnh ủy, Ủy ban Kháng chiến hành chính đứng chân, lãnh đạo phong trào kháng chiến lan tỏa ra toàn miền Đông.
Trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp, từng bản làng, từng con suối, cánh rừng Ba Chẽ đều in dấu chân cách mạng. Nhân dân các dân tộc nơi đây che chở, nuôi giấu cán bộ, góp gạo, góp sức, góp cả máu xương cho kháng chiến. Có những người phụ nữ như chị Hoàng Thị Vương, sẵn sàng đem chiếc thuyền đánh cá – tài sản duy nhất của gia đình – lao vào lửa đạn đánh đắm tàu địch. Có những thanh niên Minh Cầm ngâm mình trong dòng nước lũ, vận chuyển vũ khí về căn cứ, có người mãi mãi không trở về.
Đến kháng chiến chống Mỹ, Ba Chẽ tiếp tục là hậu phương vững chắc. Những con trâu khỏe nhất được nhân dân dắt lên đỉnh đồi kéo pháo cao xạ. Những trận địa ở Thác Đắc, Làng Han trở thành lá chắn thép bảo vệ bầu trời Đông Bắc. Tiếng súng phòng không vang lên giữa núi rừng, bắn rơi máy bay Mỹ, làm nức lòng quân dân cả nước.
Thời gian trôi qua, tên huyện Hải Chi không còn trên bản đồ hành chính, nhưng Hải Chi vẫn sống mãi trong lòng nhân dân Ba Chẽ – như biểu tượng của lòng trung kiên, của tinh thần quật cường không khuất phục. Từ những năm tháng hoa lửa ấy, Ba Chẽ đã viết nên một trang sử vẻ vang, góp phần làm rạng rỡ truyền thống cách mạng của Quảng Ninh và của cả dân tộc Việt Nam.



