Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

THỜI KHẮC LỊCH SỬ

Đoạn văn làm rõ bối cảnh ra đời của chiến tranh cục bộ và vị trí chiến lược đặc biệt của Tây Nguyên trong giai đoạn 1964–1965; đồng thời phân tích sự chuẩn bị lực lượng, thế trận của ta và âm mưu, tổ chức tác chiến hiện đại của quân Mỹ (điển hình là sư đoàn kỵ binh không vận số 1). Qua đó, nổi bật quá trình chuyển biến từ chiến tranh du kích sang kết hợp với chiến tranh chính quy, tạo tiền đề cho những trận đánh lớn, tiêu biểu như Ia Đrăng.

Lai Châu25/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trước khi nói về trận thắng oanh liệt của quân và dân Tây Nguyên tiêu diệt gọn 1 tiểu đoàn tinh nhuệ bậc nhất của Mỹ ở thung lũng Ia Đrăng trong chiến dịch Plây Me mùa khô năm 1965, tôi muốn nói vắn tắt bối cảnh của giai đoạn lịch sử này.

Cuối năm 1964, đầu năm 1965, chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ ở miền Nam Việt Nam bị phá sản. Nhà Trắng cho rằng thất bại trong “chiến tranh đặc biệt” ở Việt Nam mới chỉ là thất bai của ngụy quyền Sài Gòn, chứ chưa phải là thất bại của nước Mỹ và quân đội Mỹ. Vì vậy, ỷ vào tiềm lực quân sự và kinh tế to lớn lại có tham vọng ngông cuồng làm bá chủ thế giới, cuối cùng Giôn-xơn chọn phướng sách tăng quân và mở rộng chiến tranh. Ngày 28 tháng 7 năm 1965, tổng thống Mỹ Giôn-xơn đã tuyên bố trong cuộc họp báo ở Nhà Trắng như sau: Hôm nay tôi đã ra lệnh đưa sang Việt Nam sư đoàn không vận và một số lực lượng khác nữa đề nâng hầu như ngay tức khắc số quân chiến đấu của chúng ta từ 75.000 lên 125.000. Sau đây khi cần thêm lực, lượng bổ sung thì lực lượng này sẽ được đưa sang theo yêu cầu.

Cuộc “chiến tranh cục bộ” bắt đầu từ đó.

Oét-mo-len vạch kế hoạch chiến lược cho cuộc chiến tranh cục bộ của Mỹ gồm ba giai đoạn với thời gian từ 2 năm đến 2 năm rưỡi. Giai đoạn 1 (cuối năm 1965) chặn chiều hướng thua, ghìm không cho cộng sản hoạt động, để bảo đảm triển khai lực lượng và bảo đảm an toàn cho các khu vực trong phạm vi có thể. Giai đoạn 2 (6 tháng đầu năm 1966) mở cuộc tiến công lớn để giành quyền chủ động phá chiến tranh du kích và lực lượng chính quy đối phương. Giai đoạn 3 (trong 1 năm đến 1 năm rưỡi đến giữa hoặc cuối năm 1967). Nếu đối phương kiên quyết chống lại thì sau giai đoạn 2 cần có thời gian từ 1 năm đến 1 năm rưỡi để đánh lớn nhằm tiêu diệt các lực lượng và khu căn cứ lớn của đối phương. Việc rút quân Mỹ và quân đồng minh sẽ bắt đầu vào giai đoạn 3 khi mà chính phủ Việt Nam cộng hòa có khả năng thành lập và duy trì trật tự trong nước và bảo vệ được biên giới.

Nhà Trắng tin tưởng bằng chiến lược “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam kết hợp với cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân đối với miền Bắc chúng sẽ khuất phục được nhân dân ta. Ý định của Đảng ta là kiềm chế và thắng Mỹ trong cuộc “chiến tranh đặc biệt” để hạn chế tổn thất của nhân dân. Nhưng phái hiếu chiến ở Lầu Năm Góc và Nhà Trắng không dừng lại ở đó. Tướng Uy-lơ, Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ cho rằng chỉ cần một sư đoàn Mỹ vào đứng ở nam vĩ tuyến 17 là họ có thể chặn đứng cuộc tiến công của ta và chỉ cần hai sư đoàn lính Mỹ thì họ có thể xoay chuyển ngọn triều quân sự (!). Ngược.với những tính toán chủ quan của Mỹ, trên chiến trường miền Nam, quân và dân ta vẫn tiếp tục đẩy mạnh cuộc tiến công đẩy địch vào một tình thế hết sức bất lợi. Trong năm 1964 toàn miền Nam có trên 28 triệu lượt người tham gia đấu tranh chính trị và nổi dậy. Lực lượng vũ trang ba thứ quân của ta phát triển mạnh; Hầu hết các xã đều có từ một tiểu đội đến trung đội du kích. Bộ đội địa phương toàn Miền có tới 42 tiểu đoàn tập trung của tỉnh và ở mỗi huyện cũng có từ một trung đội đến một đại đội. Nhiều nơi còn thành lập các đơn vị đặc công... Thế trận chiến tranh nhân dân trên cả ba vùng chiến lược rừng núi, nông thôn, đồng bằng và thành thị ngày càng vững mạnh. Quân Mỹ, quân chư hầu cùng quân ngụy chẳng những “không đánh gãy được xương sống Việt cộng” mà còn bị quân và dân ta giáng những đòn phủ đầu choáng váng ở nhiều nơi. Trong năm 1964, quân và dân miền Nam đã loại khỏi vòng chiến đấu 119.000 tên địch. Tiêu biểu là trận Bình Giã diệt 2.031 tên (có 46 Mỹ), bắt sống 300 tên, bắn rơi 37 máy bay, phá hủy 27 xe bọc thép M113. Đó là trận thắng oanh liệt nhất của quân và dân miền Nam tính vào thời điểm đó.

Tôi muốn dành ít trang để nói về chiến trường Tây Nguyên trong thời khắc lịch sử này. Tây Nguyên, một vùng đất ở phía Tây Trung Bộ, với những cao nguyên rộng lớn và những cánh rừng nguyên sinh đại ngàn chiếm một phần ba diện tích rừng cả nước, lại ở độ cao có thể ví như mái nhà của Nam Đông Dương. Chiến trường này, trong kháng chiến chống Mỹ gồm ba tỉnh : Kon Tum, Gia Lai và Đắc Lắc với diện tích 36.000 km2, dân số khoảng 1 triệu người. Tây Nguyên có những điểm mạnh rất cơ bản, đó là tinh thần cách mạng của nhân dân và địa thế hiểm trở. Nói cách khác đó là con người và địa thế. Từ các hướng muốn đến Tây Nguyên đều phải vượt qua các dãy núi cao, những đường đèo quanh co, khúc khuỷu. Từ lâu thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã đánh giá rất đúng vị trí chiến lược của Tây Nguyên. Chúng cho rằng, ai chiếm được Tây Nguyên sẽ làm chủ được Đông Dương. Vì vậy, Tây Nguyên trở thành mục tiêu chiến lược và chiến trường rất quan trọng trong cả hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ. Chín năm kháng chiến chống Pháp và 20 năm chống Mỹ, cứu nước, có nhiều khu vực chưa bao giờ quân thù dám đặt chân đến như Ngọc Linh, vùng đầu nguồn sông Ba và đầu nguồn sông Sê-rê-pốc, v.v...

Trong những năm đánh Mỹ, chiến trường Tây Nguyên hình thành ba khu vực. Khu vực cánh Bắc (tỉnh Kon Tum), có nhiều núi cao rừng rậm, có ngọn núi cao tới 2.598 mét (Ngọc Linh), 2.259 mét (Ngọc-ni-ay), v.v... Các dãy núi này thấp dần về phía Nam và tạo thành vùng cao nguyên quanh thị xã Kon Tum và Plây Cu. Rừng Kon Tum gần liền với rừng Hạ Lào và rừng Tây Quảng Nam trùng điệp tạo thành một địa bàn quân sự rất sâu hiểm và kín đáo. Trong những năm Mỹ - Diệm thực hiện chính sách “Tố cộng, diệt cộng”, dựa vào thế hiểm ấy ta đã nhen nhóm lực lượng cách mạng để từ đó trở thành phong trào lan ra xung quanh và tiến xuống đồng bằng. Kon Tum còn là đầu mối, nơi đón nhận nhân lực, vật lực từ hậu phương miền Bắc chi viện cho tiền tuyến miền Nam. Trong kháng chiến chống Pháp cũng như trong chống Mỹ, Kon Tum là khu vực được giải phóng đầu tiên. Phần lớn những cuộc nổi dậy và những trận tiến công đều dấy lên từ đây. Cánh Bắc là vùng căn cứ đồng thời là chiến trường rất hệ trọng của Tây Nguyên. Nhận biết được điều đó, quân địch đã chiếm giữ và xây dựng vùng Bắc Kon Tum trở thành một khu vực phòng thủ khá kiên cố. Trung tâm phòng ngự này là Đắc Tô - Tân Cảnh, ở đây địch thường xuyên bố trí lực lượng cỡ sư đoàn chủ lực. Đường 18 từ Tân Cảnh đi Plây Cần sang A-tô-pơ (Lào) được chúng xây dựng thành tuyến phòng ngự cơ bản nhằm ngăn chặn và chia cắt chiến trường Tây Nguyên với hậu phương miền Bắc. Đoạn đường 14 từ Tân Cảnh đi Đắc Pét chúng cũng xây dựng thành tuyến ngăn chặn giữa Tây Nguyên với đồng bằng Khu 5. Trong những năm chiến tranh chông Mỹ, ở cánh Bắc Tây Nguyên luôn dịễn ra tranh chấp quyết liệt giữa ta và địch.

Khu vực cánh Trung (tỉnh Gia Lai) địa hình ít mấp mô, có nhiều đất bằng và khá kín đáo. Cánh Trung nối liền với vùng Đông Bắc Cam-pu-chia như một dải địa hình không phân cách, tạo nên những khu vực địa hình có dung lượng lởn, tập kết được nhiều binh đoàn, binh chủng hợp thành. So với cánh Bắc, việc mở các đường quân sự, bố trí kho tàng ở đây thuận lợi hơn. Cánh Trung có con sông Pô Cô về mùa mưa nước chảy xiết rất trở ngại cho việc cơ động bộ đội. Plây Cu, tỉnh lỵ của Gia Lai có nhiều sân bay và căn cứ quân sự lớn của Mỹ như sân bay Cù Hanh (Hô-Ịô-uây), An Khê... Đường 19 từ Quy Nhơn đi Plây Cu kéo dài qua Đức Cơ đến tận Stung-treng (Cam-pu-chia) là đường chiến lược trọng yếu. Đó là con đường sống còn của địch trên chiến trường Tây Nguyên. Nhiều nhà chiến lược quân sự cho rằng ai kiểm soát đường 19 sẽ kiểm soát cao nguyên trung phần và ai kiểm soát cao nguyên, người đó sẽ kiểm soát Nam Việt Nam. Năm 1961, tướng Tay-lo đã mưu đồ lập một hành lang chiến lược cắt ngang bán đảo Đông Dương từ Trung Trung Bộ đến Thái Lan và đặt đường 19 trong khu vực hành lang này. Trong hồi ký của mình, Giôn-xơn đã có lúc hốt hoảng cho rằng: Đã cổ bằng chứng chắc chắn là các nhà chiến lược ở Hà Nội hy vọng cắt đôi Nam Việt Nam dọc một tuyến từ Plây Cu ở cao nguyên trung phần theo hướng đông cho tới bờ biển. Vì lẽ đó, các nhà chiến lược quân sự Mỹ đã sử dụng những lực lượng quan trọng chiếm giữ đường 19. Ngoài ý đồ trên địch còn ý định cắt chiến trường Tây Nguyên ra làm đôi và ngăn cách Tây Nguyên với chiến trường Nam Bộ.

Khu vực cánh Nám (tỉnh Đắc Lắc) là một vùng cao nguyên đất bằng. So với cánh Bắc và cánh Trung rừng ở đây thưa hơn, rất tiện cho việc cơ động các binh khi kỹ thuật. Cánh Nam cũng là nơi có dung lượng tập kết bộ đội rất lớn. Trở ngại lớn nhất ở đây là con sông Sê-rê-pốc (những con sông ở cánh Nam đều chảy về hướng tây), về mùa nước hung dữ, rất khó khăn cho việc đi lại. Buôn Ma Thuột, tỉnh lỵ của Đắc Lắc, nằm trên đường 14 cách thị xã Plây Cu 190 km, là thủ phủ chính trị của địch ở Tây Nguyên. Tuy nó rất quan trọng, nhưng do công tác bảo đảm hậu cần gặp nhiều khó khăn nên các hoạt động quân sự lớn của ta ở đây có hạn chế. Vì lẽ đó nên địch ở cánh Nam có phần sơ hở hơn so với cánh Bắc và cánh Trung.

Nhân dân Tây Nguyên có tinh thần yêu nước nồng nàn, có truyền thống cách mạng kiên cường, Mặc dù quân thù ra sức dụ dỗ mua chuộc và khủng bố dã man, nhưng đồng bào các dân tộc Tây Nguyên vẫn gắn bó sắt son với cách mạng, một lòng một dạ theo Đảng, theo Bác Hồ. Trong những năm đen tối nhất của cách mạng miền Nam, với chính sách “tố cộng, diệt cộng”. Mỹ - Diệm tạm thành công ở nhiều nơi nhưng lại bị thất bại ở Tây Nguyên. Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1960 một số nơi bị thoái trào nhưng ở Tây Nguyên phong trào vẫn giữ được và ngày càng phát triển. Khi quân địch dồn dân lập “khu trù mật”, “khu dinh điền”, “ấp chiến lược” một bộ phận nhân dân đã chạy vào rừng sâu, sống bất hợp pháp, không chịu vào vùng địch. Trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ ở Kon Tum chỉ có hai vùng: vùng bất hợp pháp (căn cứ) và vùng địch, không có vùng hợp pháp. Còn ở Gia Lai hình thành ba vùng: vùng căn cứ, vùng hợp pháp và vùng địch. Vùng hợp pháp trở thành khu trung gian móc nối liên lạc giữa ba vùng. Ở Đắc Lắc tình hình cũng gần giống như Gia Lai. Vùng bất hợp pháp dần dần được xây dựng thành những căn cứ du kích và sau này đã được nối liền nhau trở thành khu căn cứ địa cách mạng; nhân dân trong vùng bất hợp pháp chịu đựng gian khổ, đói cơm, nhạt muối, thiếu thốn trăm đường nhưng họ rất kiên trung theo cách mạng. Chính họ là chỗ dựa vững chắc và cơ bản nhất tạo địa bàn cho các lực lượng chủ lực của ta từ miền Bắc vào đứng chân và tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân trên chiến trường Tây Nguyên.\Ngược lại lịch sử đấu tranh của Tây Nguyên, ta không thể quên được người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ. Dấu voi xưa còn in lại trên trảng cỏ An Khê, nơi dựng nghĩa của nhà Tây Sơn. Người dân Tây Nguyên tự hào đã góp con em của mình tham gia vào đội tượng binh của Nguyễn Huệ. Trong thời kỳ thực dân Pháp xâm lược nước ta lần thứ nhất, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đã anh dũng cùng cả nước chống giặc. Người dân Tây Nguyên tự hào đã cùng đồng bào các tỉnh miền xuôi hưởng ứng các phong trào Văn Thân, Cần Vương chống xâm lược. Ngày 6 tháng 1 năm 1885, công sứ Quy Nhơn Na-ven cùng đoàn tùy tùng ngược đường 19 lên Plây Cu nhằm khuất phục người dân ở đây, nhưng bị đồng bào phục kích ở làng Plây Tio, giết một tên làm bị thương chín tên lính Pháp, buộc chúng phải bỏ cuộc.

Sang đầu thế kỷ XX, phong trào chống Pháp của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên vẫn diễn ra liên tục sôi nổi, tiêu biểu nhất là cuộc chiến đấu vô cùng can trường ròng rã suốt 20 năm trời do Ama -Trang Lơn người dân tộc Mơ Nông lãnh đạo (1914-1934) đã lập căn cứ ở đại bộ phận vùng rừng núi Nam Tây Nguyên. Địch ra sức đàn áp nhưng vẫn không dập tắt được tinh thần yêu nước của nhân dân các dân tộc trên cao nguyên rừng xanh đất đỏ này.

Từ khỉ Đảng ra đời, thông qua nhiều chiến sĩ cách mạng, đặc biệt là những đảng viên cộng sản trong các nhà tù đế quốc ở Kon Tum, Buôn Ma Thuột, cơ sở cách mạng ở đây được nhen nhóm và phát triển. Sự lãnh đạo của Đảng dần dần được mở rộng đánh dấu bước ngoặc về chất trong phong trào yêu nước của đồng bào Tây Nguyên. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp nhiều tấm gương chiến đấu anh dũng giữ trọn khí tiết đến hơi thở cuối cùng, tiêu biểu là Anh hùng Vừu người dân tộc Ba Na. Đặc biệt là Anh hùng Núp và đội du kích Xi Tơ của ông đã thành biểu tượng của cả Tây Nguyên bất khuất. Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, trong thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tại Plây Cu ngày 19 tháng 8 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau. Trước kia chúng ta xa cách nhau, một là vì thiếu liên lạc, hai là vì kẻ thù xúi giục để chia rẽ chúng ta. Ngày nay nước Việt Nam là một của chúng ta... Giang sơn và Chính phủ là giang sơn và Chính phủ chung của chúng ta. Vậy nên tất cả các dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn nước non ta, để ủng hộ Chính phủ ta. Chúng ta phải thương yêu, phải kính trọng nhau, phải giúp đỡ nhau để mưu cầu hạnh phúc chung của chúng ta và con cháu chúng ta. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt. Chúng ta quyết góp chung lực lượng lại để giữ vững quyền tự do, độc lập của chúng ta(1). Từ đó những hiểu biết và niềm tin về Đảng tập trung vào Bầc Hồ kính yêu. Những tiếng “muối Bác Hồ”, “chữ Bác Hồ”, “bộ đội Bác Hồ”... đã trở nên gắn bó, sâu nặng biết bao trong lòng người Tây Nguyên.

Nhân dân Tây Nguyên chẳng những cầm vũ khí phối hợp với bộ đội đánh giặc giữ làng, mà còn tích cực sản xuất lương thực, nuôi cán bộ, bộ đội, đi dân công cáng thương, gùi đạn, đào hầm đắp ụ, cung cấp tình hình địch và dẫn đường cho bộ đội. Ba tiếng “làm cách mạng” thiêng liêng và quen thuộc đã trở thành nguyện vọng, niềm tự hào và là nghĩa vụ chung, của mọi người dân, không phân biệt gái trai, lớn nhỏ. Dù đói cơm nhạt muối, gian khổ ác liệt đến đâu, đồng bào vẫn một lòng trung thành với cách mạng, luôn lạc quan tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng.

Nhân dân các dân tộc Tây Nguyên những người con của đại gia đình các dân tộc Việt Nam có một niềm tự hào rất chính đáng với truyền thống đấu tranh của mình, với nền văn hóa cổ truyền lấp lánh như một viên ngọc trong nền văn hóa lâu đời của dân tộc ta. Tây Nguyên còn là một miền đất huyền thoại với những ông vua Lửa, vua Nước (Pơ tan Pui, Pơ tan Ia) với những chàng dũng sĩ Đam San, Xinh Nhã... mạnh khỏe, tài ba và quả cảm cùng những âm thanh bất tận của cồng chiêng, của tiếng đàn T’rưng trầm hùng, của điệu kể khan đầy trữ tình, và những điệu múa rông chiêng, Kà Tu sôi nổi, rộn ràng. Có thể nói kiên cường, bất khuất trước quần thù, thủy chung son sắt với cách mạng, tin yêu Đảng, tôn kính Bác Hồ, sẵn sàng hy sinh tất cả để giành độc lập, tự do đã trở thành phẩm chất tốt đẹp của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên.

Ngay từ trong kháng chiến chống Pháp, Đảng ta đã đánh giá rất cao vị trí chiến lược của chiến trường Tây Nguyên: “Nhiệm vụ phất triển vào Tây Nguyên phải coi là quan trọng bậc nhất, nhiệm vụ củng cố vùng tự do phải coi là nhiệm vụ quan trọng thứ hai”. Tháng 10 năm 1960, trong bài giải thích về Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho rằng: “Tây Nguyên rộng lởn, địa thế tốt, phong trào quần chúng tốt... Tây Nguyên có khoảng 1 triệu dân, ta phải làm thế nào có thể 1/10 dân số kiên quyết cầm vũ khí đánh địch. Đặc biệt phải hết sức chú ỷ tăng cường về quân sự... Ớ đây mạnh thì ta mạnh toàn diện cả miền Nam. Nơi không có người thì đưa người đến, thực hiện đúng tinh thần Nghị quyết Trung ương lần thứ 15. Không có người trồng người, có đất có ăn”.

Năm 1961, Trung ương Đảng ta chỉ thị “Căn cứ lâu dài và cho toàn miền Nam là khu vực rừng núi Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ”. Tháng 1 năm 1962, Đảng ủy Quân khu 5 ra nghị quyết nhấn mạnh “Tây Nguyên chẳng những chiếm vị trí trung tâm cơ động trên chiến trường liên khu và cả ở miền Nam Việt Nam, mà còn là trung tâm cơ động trên chiến trường Nam Đông Dương”.

Cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân miền Nam sang đến đầu năm 1964 đã đứng trước thời cơ chiến lược mới - chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ đang bị thất bại nặng nề và đứng trước nguy cơ sụp đổ hoàn toàn. Lực lượng cách mạng miền Nam đã phát triển không ngừng và có khả năng giáng đòn quyết định làm thất bại âm mưu chiến tranh của địch. Quy luật đấu tranh vũ trang của chiến tranh giải phóng là từ chiến tranh du kích tiến lên chiến tranh chính quy, kết hợp chặt chẽ giữa chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy. Trên cơ sở chiến tranh du kích đã được mở rộng từng bước phải phát triển chiến tranh chính quy để giữ vững thế tiến công, tiêu diệt lực lượng lớn của địch giải phóng đất đai. Trong thời kỳ đầu của chiến tranh giải phóng, do tương quan lực lượng so sánh giữa ta và địch, chúng tạm thời có những mặt mạnh hơn ta, vì vậy ta thường chọn rừng núi làm chiến trường để tiến hành chiến tranh chính quy, tác chiến của bộ đội chủ lực. Theo phương châm đó, ngày 1 tháng 5 năm 1964, Bộ Chính trị quyết định thành lập Mặt trận Tây Nguyên, lấy phiên hiệu là chiến trường B3. Mặt trận Tây Nguyên được hình thành lúc đầu như là phân khu miền Tây của Quân khu 5 do anh Hà Vi Tùng và anh Dương Liên phụ trách, về sau anh Nguyễn Chánh làm tư lệnh, anh Đoàn Khuê làm chính ủy.

Như trên đã nói, Tây Nguyên là một bộ phận đất đai thuộc Liên khu 5. Nhiệm vụ của chiến trường Tây Nguyên gắn bó chặt chẽ với chiến trường Khu 5. Nhưng do vị trí của nó, về mặt chiến lược quân sự, Tây Nguyên còn có những quan hệ với các chiến trường Đông Nam Bộ, Trị Thiên và hai chiến trường nước bạn Lào và Cam-pu-chia. Do vậy, ngoài nhiệm vụ đối với chiến trường Quân khu 5, Tây Nguyên còn có những nhiệm vụ riêng do Bộ trực tiếp giao cho. Chỉ thị của Quân ủy Trung ương ngày 27 tháng 4 năm 1965 xác định nhiệm vụ của Tây Nguyên như sau: Trong phạm vỉ chiến tranh đặc biệt, Tây Nguyên là chiến trường chính để tiêu diệt sinh lực địch; phối hợp với Pa-thét Lào giữ vững và mở rộng khu giải phóng Hạ Lào tạo thành một căn cứ tương đối lớn ở Trung Đông Dương. Tuy vậy, trong từng thời kỳ phát triển khác nhau của chiến tranh, nhiệm vụ của chiến trường có lúc đã có sự bổ sung hoặc thay đổi nhất định, nhưng nhiệm vụ chung có thể nói vắn tắt: Một là, xây dựng chiến trường đánh tiêu diệt lớn, có đội quân chủ lực mạnh làm nòng cốt thúc đẩy ba thứ quân cùng phát triển, tiêu diệt, tiêu hao nhiều và rộng rãi sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch. Thu hút, giam chân lực lượng chủ lực cơ động Mỹ - ngụy, tạo điều kiện cho đồng bằng và đô thị nổi dậy. Phối hợp chặt chẽ với Trị Thiên, Đông Nam Bộ và các chiến trường khác tiến công địch trong những thời điểm chiến lược. Hai là, xây dựng hậu phương trực tiếp của cách mạng miền Nam và Đông Dương, xây dựng và bảo vệ hành lang chiến lược nối liền hậu phương lớn với tiền tuyến lớn, phá thế chia cắt của địch, tiến lên chia cắt địch. Ba là, xây dựng và phát triển chiến trường thành hướng chiến lược của Bộ trong giai đoạn giành thắng lợi quyết định của chiến tranh. Có thể nói đây là nhiệm vụ xuyên suốt của Mặt trận Tây Nguyên trong quá trình tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Nhân đây tôi nói thêm, mối quan hệ giữa Mặt trận Tây Nguyên đối với Bộ và Khu 5. về chính trị thì song trùng lãnh đạo, Mặt trận vừa chịu sự lãnh đạo của Khu ủy Khu 5, vừa chịu sự lãnh đạo của Quân ủy Trung ương, về quân sự và hậu cần thì do Bộ trực tiếp chỉ huy và tổ chức bảo đảm. Quân khu tham gia góp ý kiến chỉ đạo. Đối với các tỉnh ủy ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên đã đoàn kết chặt chẽ chủ động hiệp đồng vì thắng lợi chung, vì sự nghiệp cách mạng của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Mối tình đoàn kết giữa các tỉnh ủy với Đảng ủy B3 chúng tôi là tình cảm cách mạng chân thực, trong sáng và hiếm có. Đối với các tỉnh đội, có lúc thì Quân khu giao cho Mặt trận trực tiếp chỉ huy, có lúc thì do Quân khu chỉ huy, Mặt trận chỉ có hiệp đồng chiến đấu. Mặc dù về tổ chức có chỗ chưa hợp lý nhưng mối quan hệ giữa Mặt trận với ba tĩnh đội luôn luôn gắn bó chặt chẽ, luôn luôn tạo điều kiện giúp đỡ lẫn nhau hoàn thành nhiệm vụ.

Lực lượng vũ trang của Mặt trận Tây Nguyên hình thành và phát triển từ hai nguồn. Lực lượng vũ trang địa phương hình thành từ cao trào đồng khởi, về sau ngày được bổ sung và xây dựng phát triển dần lên. Lúc đầu các đảng bộ địa phương cử các đảng viên ưu tú và chọn số thanh niên hăng hái đưa vào tổ chức các đội tự vệ và du kích. Đầu năm 1960, Bộ phái một số cần bộ từ ngoài Bắc vào để tăng cường thêm dần, về sau các lực lượng trên phát triển thành bộ đội địa phương tỉnh và huyện. Bộ đội chủ lực của Mặt trận đều do Bộ tổ chức từ hậu phương miền Bắc đưa vào. Tuy không phải là lực lượng được xây dựng tại chỗ, nhưng bộ đội chủ lực ta đã phát huy bản chất cách mạng của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Được dân tin yêu và đùm bọc, bộ đội chủ lực Tây Nguyên thực sự là con em của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, đói no, ngọt bùi cùng chia sẻ với nhân dân.

Công tác tổ chức và bảo đảm hậu cần cho chiến trường một phần do trên chi viện, một phần dựa vào sự đóng góp của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Đồng thời bộ đội ta đã ra sức tăng gia sản xuất và lấy của địch để đánh địch. Phát huy tiềm năng tại chỗ, kết hợp với sự chi viện của trên, đó là phương châm giải quyết công tác bảo đảm vật chất cho chiến đấu của chiến trường Tây Nguyên.

Vào thời gian này, lực lượng chủ lực của Tây Nguyên có tiểu đoàn 2001, tiểu đoàn đặc công 407 và tiểu đoàn súng máy 303 của Quân khu 5 vừa bổ sung. Cuối năm 1964, Tây Nguyên được Bộ tăng thêm trung đoàn 320, trung đoàn đầu tiên đủ quân được chọn lọc từ 3 sư đoàn 308, 304, 350 được trang bị vũ khí bộ binh của Liên Xô. Tiếp đó là trung đoàn 101 (Sư đoàn 325) và tiểu đoàn 545 (Quân khu Tây Bắc). Đồng thời để đáp ứng nhiệm vụ tác chiến, Mặt trận thành lập Viện quân y(1) và mở cửa khẩu Tân Lập để thu mua lương thực, thực phẩm tăng nguồn dự trữ cho chiến đấu.

(1) Tiểu đoàn pháo binh 200 thành lập ngày 20 tháng 12 năm 1960 ở Mậu Long (Nghệ An) gồm 148 cán bộ, chiến sĩ (phần lớn là các chiến sĩ miền Nam và Tây Nguyên tập kết ra Bắc năm 1954, trong đó có 4 chiến sĩ gái người Ê Đê là: Y Nay, Y Hông, Y Ngoan, Y Na), được lựa chọn từ 2 tiểu đoàn pháo của các sư đoàn 305 và 324 do anh Trần Trọng Sơn làm tiểu đoàn trưởng và anh Hồ Thắc làm chính trị viên. Trang bị của tiểu đoàn gồm 2 khẩu sơn pháo 75 ly (208 quả đạn), cối 81 ly và cối 60 ly, một ít tiểu liên cải tiến. Đây là đơn vị chủ lực đầu tiên của ta từ miền Bắc vào, đến chiến trường giũa tháng 1 năm 1961.

Giữa năm 1965, tăng cường lãnh đạo, thống nhất chỉ huy và phát triển lực lượng ba thứ quân xây dựng căn cứ hậu phương trực tiếp của chiến trường là vân đề có ý nghĩa chiến lược chẳng những đối với Tây Nguyên mà còn cho cả Khu 5 và Nam Bộ. Do vậy, sau khi chiến dịch Ba Gia(1) kết thúc, Quân ủy Trung ương cử anh Chu Huy Mân lên Tây Nguyên làm tư lệnh kiêm chính ủy mặt trận. Cùng lên Tây Nguyên với anh Mân còn có anh Bùi Nam Hà, tham mưu phó quân khu và tôi (do còn phải giải quyết một số công việc nên tôi đi sau đoàn nửa tháng). Đầu tháng 9 tôi đến Sở chỉ huy Bộ tư lệnh Mặt trận đóng ở một cánh rừng già thuộc khu vực Tà Xẻng gần ngã ba Đông Dương. Cũng vào thời gian này Bộ bổ sung cho Tây Nguyên trung đoàn 33, đến tháng 10 tăng thêm một số cán bộ của hai sư đoàn 325 và 304. Ý định của Bộ lúc đó là tập trung chủ lực mở chiến dịch tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân ngụy, giải phóng vùng Bắc Tây Nguyên (mục tiêu là tỉnh Kon Tum). Nhưng do tình hình địch thay đổi nên ta tạm hoãn lại kế hoạch này. Cũng vào thời gian này, nhằm mở rộng cơ sở hậu cần chiến dịch, hai tiểu đoàn vận tải của Đoàn 559 và đoàn cán bộ Tổng cục Hậu cần đến Tây Nguyên thành lập cửa khẩu VQ5 tiếp nhận nguồn hàng của Trung ương chi viện qua đường Cam-pu-chia và tổ chức mua thêm nguồn hàng tại chỗ cung cấp cho chiến trường. Để bảo đảm cơ sở vật chất cho nhu cầu tác chiến, Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên quyết định thành lập Binh trạm Nam và bệnh viện 2 hình thành căn cứ hậu cần cánh Nam. Đồng thời tổ chức bộ phận ở phía nam sông Sê Sụ làm nhiệm vụ nhận hàng chuyển giao của Đoàn 559, chuẩn bị xây dựng căn cứ hậu cần cánh Bắc. Các đường hành lang C01, C02, C03, C07 thuộc Quân, khu 5 được chuyển giao cho hậu cần mặt trận quản lý.

Khi các đơn vị chủ lực đến các chiến trường, thì lực lượng tại chỗ đã chuẩn bị sẵn chỗ đứng chân và các bàn đạp tiến công khá tốt. Nhờ vậy mà chỉ sau một thời gian ngắn, bộ đội chiu lực đã có thể triển khai tiến công địch ngay. Chiến tranh chính quy xuất hiện đã làm biến đổi nhanh chóng cục diện chiến trường. Bước vào thời kỳ chiến tranh cục bộ lực lượng bộ đội chủ lực phát triển rất nhanh, từ một vài trung đoàn năm 1964 đã tăng lên tương đương một sư đoàn vào cuối năm 1965. Trong khi đó lực lượng vũ trang địa phương phát triển chậm hơn. Tình hình này phát sinh một mâu thuẫn mới là chiến tranh du kích không theo kịp và không hỗ trợ đắc lực cho chiến tranh chính quy. Trước tình hình đó, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên đã có một quyết định rất sáng tạo là tổ chức các đơn vị chủ lực tại chỗ. Bộ đội chủ lực tại chỗ của ta là những trung đoàn bộ binh, những tiểu đoàn mũi nhọn, những đơn vị pháo, đặc công, công binh... Nhiệm vụ của bộ đội chủ lực tại chỗ là cắm chân vững chắc trên địa bàn từng tỉnh phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương các tỉnh tiêu diệt địch, kìm chân địch tại chỗ, phá bình định, xây dựng cơ sở chính trị địa phương sẵn sàng phối hợp với chủ lực cơ động trong những chiến dịch tiến công. Phương thức tác chiến của bộ đội chủ lực tại chỗ là kết hợp tiêu diệt địch với giành dân, kết hợp đánh vừa, đánh nhỏ với đánh lớn. Đồng thời phải ra sức tăng gia sản xuất và dựa vào sự giúp đỡ của nhân dân địa phương để giải quyết vấn đề lương thực tại chỗ. Có thể nói bộ đội chủ lực tại chỗ là cầu nối giữa chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy.

Sau chiến dịch tiến công mùa Hè năm 1965 của ta kết thúc bằng trận công kiên, tiêu diệt căn cứ Đắc Xút (Kon Tum) và việc đánh bại cuộc hành quân của địch nhằm giải tỏa Đức Cơ (Gia Lai), trong đó có trận phục kích trên đoạn Lệ Thanh - Phước Thiện gây cho địch tổn thất nặng nề, quân địch ở Tây Nguyên từ thế chiếm đóng “tuyến kết hợp diện” phải thu hẹp lại và bắt đầu thay đổi cơ cấu tổ chức nhằm củng cố và tăng cường sức chiến đấu cho lực lượng chủ lực. Chúng thực hiện ý đồ co cụm lớn bảo vệ những nơi xung yếu như quận lỵ, thị trấn, thị xã, đường giao thông chiến lược, ngăn chặn ta tiến công. Tiểu khu Kon Tum tách khỏi vùng chiến thuật 2. Cuối mùa hè năm 1965, địch lập biệt khu 24. Chúng tổ chức thêm cho mỗi trung đoàn bộ binh tiểu đoàn chiến đấu thứ tư và tăng cường trung đoàn 42 quân ngụy cho biệt khu 24. Cùng thời gian này, địch bố trí tổ chức vùng chiến thuật, thành lập quân khu 2 và quân đoàn 2 ngụy đặt sở chỉ huy tiền phương tại Plây Cu.

Đầu tháng 9 năm 1965, Oét-mo-len, Tổng chỉ huy quân đội Mỹ ở miền Nam quyết định đưa sư đoàn kỵ binh không vận số 1 Mỹ do Trung tướng Ha-ri-kin-na chỉ huy lên Tây Nguyên đứng chân ở quận lỵ An Khê, một vị trí then chốt trên đường 19, án ngữ cửa ngõ Tây Nguyên. Căn cứ sư đoàn kỵ binh không vận đóng trên hai khu vực: Trung tâm căn cứ nằm ở phía tây sông Ba gồm có cơ quan chỉ huy, điện đài, trạm quân y, tổng kho hậu cần... Sân bay Tân Tạo nằm sát chân núi Hòn Công. Khu phía đông sông Ba có sân bay Cây Me (sân bay cũ của Pháp), Mỹ cải tạo thành nơi đậu các loại máy bay vận tải. Nối liền hai khu là chiếc cầu sắt bắc qua sông Ba. Xung quanh căn cứ là hàng rào dây kẽm gai, với bãi mìn dày đặc, có đường cho xe tuần tiễu. Bên ngoài căn cứ là hệ thống đồn bốt và ấp chiến lược tạo thành vành đai bảo vệ. Chiếm giữ An Khê chúng có thể khống chế vùng đồng bằng các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc Tây Nguyên, đồng thời uy hiếp trực tiếp đường hành lang chiến lược Bắc - Nam.

Theo tin chúng tôi nắm được về sư đoàn kỵ binh không vận số 1 Mỹ (ta quen gọi là sư đoàn kỵ binh bay) lúc đó như sau(2): về quân số: 15.984 người, vũ khí trang bị 450 máy bay hầu hết là trực thăng, trong đó có 39 trực thăng vũ trang (mỗi chiếc trang bị 48 đạn rốc-két 70 ly); 54 pháo 105 ly; khoảng 1.600 xe (trong đó có 20 xe vận tải bọc thép); hơn 2.000 máy VTĐ các loại, trong đó có loại hiện đại nhất của Mỹ lúc bấy giờ là máy 2w PRC25. Biên chế 8 tiểu đoàn chiến đấu gồm 3 tiểu đoàn dù và 5 tiểu đoàn bộ binh, mỗi tiểu đoàn có 830 người. Bán kính hoạt động tối đa của sư đoàn kỵ binh là 300km, trung bình từ 100 đến 200km. Nếu lập căn cứ độc lập thì bán kính hoạt động của lữ đoàn có thể từ 50 đến 100km. Chỗ mạnh của sư đoàn này là nhiều phương tiện hiện đại có khả năng trinh sát phát hiện đối phương (tiểu đoàn trinh sát gồm 3 đại đội trinh sát đường không và 1 đại đội trinh sát mặt đất, trang bị 92 trực thăng, trong đó có 36 chiếc trực thăng trinh sát). Chúng có khả năng tập trung lực lượng thực hành tập kích bất ngờ, nhanh chóng bằng hỏa lực gây tổn thất nếu ta không đề phòng. Sư đoàn kỵ binh bay số 1 còn có thể tác chiến ở nhiều khu vực hoặc nhiều hướng cùng một lúc. Song chúng cũng bộc lộ những mặt yếu rất khó khắc phục đó là bị lệ thuộc nhiều vào điều kiện khí hậu, thời tiết. Khả năng cơ động và tác chiến ban đêm yếu. So với các sư đoàn chiến đấu khác của Mỹ thì khả năng cơ động trên bộ và hỏa lực pháo binh chi viện yếu hơn. Sức đột kích của tiểu đoàn và lữ đoàn trong chiến đấu tấn công cũng như khả năng tác chiến liên tục thời gian dài và phòng ngự cố định ở mọi khu vực đều yếu, nhất là khi hoạt động trực thăng bị hạn chế hoặc bị ta tấn công trực tiếp vào hậu cứ thì nhược điểm này càng bộc lộ rõ. Bị lệ thuộc vào căn cứ sân bay. Nhu cầu tiếp tế hậu cần, nhiên liệu cho trực thăng hoạt động rất lớn (một ngày toàn sư đoàn hoạt động, tiêu thụ hết 440 tấn dầu). Việc bảo dưỡng máy bay càng đặt ra nhiều vấn đề buộc chúng phải giải quyết, v.v...

Về thủ đoạn tác chiến, chúng sử dụng chủ yếu từng lữ đoàn tác chiến độc lập, đổ từng đại đội theo kiểu “cóc nhảy” xuống các vị trí, sau đó hợp lại thành cụm quân để “vồ chụp”, “cất vó”, “tìm diệt” đối phương. Chúng rất coi trọng việc sử dụng ưu thế về hỏa lực không quân, máy bay lên thẳng mang rốc-két thay cho pháo binh mặt đất để thực hành đánh nhanh, giải quyết nhanh, rút nhanh khỏi khu chiến. Cách đánh này là rất mới mẻ đối với bộ đội ta.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn