Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

THỜI KỲ GIAN KHỔ NHẤT

Đoạn văn tái hiện giai đoạn đầy biến động và khó khăn của Sư đoàn 3 (Sao Vàng) tại Bình Định năm 1969 - 1970, khi lực lượng bị hao hụt nghiêm trọng, thiếu thốn vũ khí, lương thực đến mức nhiều đơn vị phải giải thể hoặc sáp nhập. Giữa bối cảnh khắc nghiệt ấy, sự hình thành của Bệnh xá 305 (Cục Hậu cần Quân khu 5) dưới sự chỉ huy của tác giả (anh Đáng) đã trở thành điểm tựa vững chắc cho bộ đội. Không chỉ là một đơn vị quân y chuyên môn giỏi, có khả năng chiến đấu và vận tải kiên cường, Bệnh xá 30

Lai Châu10/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tại Bình Định trong năm 1969 chỉ có Trung đoàn 12 hoạt động ở cánh Nam, nên những nơi khác địch gây khó khăn cho ta nhiều hơn. Quân số Sư đoàn thiếu, nhiều đại đội chỉ còn 20-25 tay súng. Kinh tế rất khó khăn, đơn vị đã tự sản xuất nuôi mình 2-3 tháng. Hoạt động vừa thiếu quân vừa thiếu đạn, chỉ còn nửa cơ số nên đánh ít hơn. Tháng 2/1970 Trung đoàn 22 phải giải thể, phân tách các tiểu đoàn cho các tỉnh đội ( Tiểu đoàn 7 về tỉnh Quảng Ngãi, Tiểu đoàn 8 về tỉnh Bình Định, Tiểu đoàn 9 về tỉnh Phú Yên). Cuối năm, Sư đoàn 3 cũng giải thể chỉ còn Trung đoàn 2 và Trung đoàn 12. Đồng chí Mai Nhẫn làm Chủ nhiệm Quân y Trung đoàn 2. Tiểu đoàn 70 và Tiểu đoàn 60 nhập thành Bệnh xá 305 của Cục Hậu cần Quân khu 5.

Hôm Trung tá, bác sỹ Cát Huy Dương, Trưởng Phòng quân y Quân khu 5 tổ chức Bệnh xá Khu vực thì Tiểu đoàn 60, 70 đang chỉnh đốn quân số. Các đồng chí ốm, bị thương, tuổi cao được đề nghị rời chiến trường, một số đi học. Đội trưởng, bác sỹ Thi đã ra Bắc vì bị trĩ nội. Đời sống gian khổ, ác liệt nên một số người mệt mỏi, muốn rời khỏi chiến trường giữa lúc Cách mạng niềm Nam khó khăn nhất. Những người “Cơ hội” tìm mọi cách để được ra Bắc. Những người ở lại cũng mong họ đi sớm để khỏi ảnh hưởng đến công việc của đơn vị. Tôi được lên Đại úy trong 2 năm, điều ấy cũng xác nhận sự đóng góp cá nhân (vì sớm hơn 2 năm). Tôi được bổ nhiệm làm Bệnh xá trưởng Khu vực, bác sỹ Quảng nhiều tuổi, sức yếu hơn, là Chủ nhiệm Quân y Trung đoàn 2 về làm cấp phó. Anh là người Tày, hiền hâụ, thật thà. Quân số đơn vị được biên chế 220 người, trong đó có Đại đội Vận tải 70 người, còn 150 nhân viên khác. Tôi vui mừng được gặp số anh em Tiểu đoàn 70 xưa kia, những người ở lại là những người thật tốt.

Bệnh xá 305 có đội ngũ chuyên môn giỏi, quen công việc, sẵn sàng làm bất cứ nhiệm vụ gì của đơn vị. Đại đội Vận Tải là những cựu binh quen chiến trường, có 70 khẩu tiểu liên AK và trung liên. Họ có thể chiến đấu tốt, mang vác tốt, họ mạnh hơn 2 đại đội của đơn vị bộ binh. Các cán bộ chỉ huy nhiều kinh nghiệm, họ đi cõng gạo 5 ngày một chuyến, kết hợp cõng các hàng hóa khác, nộp kho bình quân 50-60kg gạo/người. Họ đã từng phục kích đánh đuổi bảo an dân vệ. Những cán bộ Tiểu đội vận tải được bổ sung xuống đơn vị, sau 1 năm đã làm cán bộ Đại đội, năm nữa là Tiểu đoàn phó. Họ làm việc bằng 3 tân bình, lại thành thạo chiến trường, quen chịu đựng gian khổ ác, liệt. Họ là nòng cốt trong việc cung cấp lương thực, bảo vệ thương binh, xây dựng cơ sở, cho nên trước một đội ngũ hùng mạnh, tôi cảm thấy sung sướng, yên tâm. Anh em tiểu đoàn 70 gặp lại nhau thì mừng vui khôn xiết, nhất là gặp lại người chỉ huy cũ đã từng đưa đơn vị giành nhiều thắng lợi lớn trong những ngày đầu. Anh em kể lại rất nhiều chuyện về Tiểu đoàn 70 vừa qua khi tôi chuyển về Quân khu. Họ hi vọng tôi sẽ dìu dắt đơn vị tiến bộ xa hơn. Anh Trường, chính trị viên Tiểu đoàn 70, năm 1970 cũng ra Bắc vì tuổi cao. Khi ra đi, anh cũng buồn vì khi vào chiến trường là Thượng úy, khi ra Bắc vẫn vậy, có lẽ anh mắc phải một khuyết điểm là đã từ chối không nhận một đồng chí nữ có mang gần tháng đẻ, cho về quê để chị ấy đẻ giữa đường. Đó là thiếu sót về quan điểm, mà anh lại là chính trị viên.

Từ ngày đầu, tôi đã giáo dục cho đơn vị phải thương yêu đồng đội, thông cảm với ai đã đến với mình, phải châm chước trong chiến tranh, nhận vô điều kiện, ngay cả thương binh nặng không muốn chuyển viện cũng phải giữ lại tiếp tục điều trị cho tới khi nào họ đồng ý đi mới cho đi. Trong cuộc chiến tranh này, ở Sư đoàn có bao nhiêu số phận éo le, ví dụ như những phụ nữ có mang, rồi đẻ, rồi những người có con nhỏ, những người sức khỏe kém, già yếu, kém năng lực cũng đến với chúng tôi. Biết rằng mình cũng quá khổ, nhưng vẫn thông cảm để cưu mang. Công việc của chúng tôi làm là cứu chữa đồng đội. Có thể khó khăn hơn cho chúng tôi, nhưng không nỡ nhìn thấy họ gặp khó khăn mà không giúp đỡ. Chả thế, có người bảo Tiểu đoàn Quân y 60 như một túi chứa bao cảnh đời khó khăn: người có thai chưa đến tháng đẻ cũng muốn đến bệnh xá trước cho yên tâm, đẻ xong lại muốn ở lại nuôi con cho cứng cáp, con nhỏ sẽ được chúng tôi che chở. Họ đều là lính, vợ con cán bộ, không thể làm chức năng bố mẹ như thời bình, cũng cần giúp đỡ. Cán bộ già yếu đưa về bệnh xá cũng có lý do vì không ai nhận, về bệnh xá yên tĩnh làm công tác nhẹ hơn. Cũng may những người đó biết điều không quấy phá mà chịu làm việc phục vụ cho thương bệnh binh. Chúng tôi không phàn nàn mà lãnh đạo anh em đơn vị thông cảm, việc này không phiền mình nhiều, vả lại mọi người không nhận, ta không thương thì họ còn cách nào khác để khắc phục? Cũng là giúp bạn lúc khó khăn thôi. Mấy chục năm sau hòa bình các chị đó vẫn còn biết ơn chúng tôi, nói với con cái họ rằng: “Không có các bác, con cũng khó sống đến ngày nay”. Tôi vui vì thấy gia đình họ đã toàn vẹn vượt qua khó khăn trong chiến tranh.

Năm 1970 việc thu nhận, cứu chữa thương bệnh binh ít hơn, cả hai Trung đoàn có 1434 thương bệnh binh, chữa khỏi về đơn vị giảm xuống còn 50%, tử vong cao hơn (hơn 3%) vì số bệnh binh chết tăng (năm 1969 là 1.7%, năm 1970 là 3.7%). Năm 1970, nhận 150 ca suy kiệt nặng vì đói 3 tháng của một tiểu đoàn tân binh hành quân từ Bắc vào Nam, trên đường bom địch phá hết kho gạo, thực phẩm không có phải kiếm rau rừng ăn để hành quân. Đây là số ca nặng nhất được khiêng tới đơn vị. Những người còn lại phải chuyển xuống đồng bằng bồi dưỡng 1 năm mới hồi phục.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn