Thu 1973 – Quân dân An Nhơn, Phù Cát, Tuy Phước kiên cường diệt ác, phá kìm
Thu 1973 – Quân dân An Nhơn, Phù Cát, Tuy Phước kiên cường diệt ác, phá kìm
Sau Hiệp định Paris năm 1973, chiến trường Bình Định vẫn tiếp tục diễn ra gay go, quyết liệt. Dù trên danh nghĩa phải ngừng bắn, nhưng chính quyền Sài Gòn vẫn ngoan cố mở các cuộc hành quân phản kích, lấn chiếm, bình định, tìm cách giành lại đất, giành dân và khôi phục bộ máy kìm kẹp ở cơ sở. Trước tình hình đó, quân và dân Bình Định không bị động chờ đợi mà tiếp tục chủ động tiến công, phối hợp nổi dậy, kiên quyết chống âm mưu “bình định” của địch.
Ở An Nhơn, ngày 27/9/1973, Tiểu đoàn 50 tỉnh đã tập kích trụ sở ngụy quyền xã Nhơn An. Trận đánh diễn ra nhanh gọn, tiêu diệt 2 trung đội dân vệ, thanh niên chiến đấu và 60 tên ác ôn. Đây là đòn đánh mạnh vào bộ máy kìm kẹp của địch ở cơ sở, góp phần hỗ trợ quần chúng nổi dậy, củng cố niềm tin của Nhân dân vào lực lượng cách mạng.
Không dừng lại ở đó, ngày 22/10/1973, một đại đội của Tiểu đoàn 50 tỉnh tiếp tục tiến công ở Trung Lý, Nhơn Phong, tiêu diệt 2 trung đội dân vệ. Những trận đánh liên tiếp ấy đã làm cho lực lượng địch ở địa phương bị suy yếu, tinh thần hoang mang, thế kìm kẹp ở nhiều nơi bị lung lay.
Tại Phù Cát, ngày 24/10/1973, lực lượng Đ30 phối hợp với du kích Cát Chánh đã lập chiến công xuất sắc khi bắn rơi 2 máy bay trực thăng, tiêu diệt 1 trung đội dân vệ mang tên “Thần Xà”. Chiến công này thể hiện tinh thần chiến đấu mưu trí, gan dạ của lực lượng địa phương, đồng thời gây cho địch nhiều thiệt hại trong quá trình chúng phản kích, lấn chiếm.
Cùng với các trận đánh vũ trang, tự vệ mật ở một số xã phía Nam, tiêu biểu là Cát Hanh và Nhơn Mỹ, liên tục diệt ác, hỗ trợ quần chúng nổi dậy. Đây là một hình thức đấu tranh quan trọng, đánh thẳng vào những tên ác ôn, tay sai trực tiếp kìm kẹp Nhân dân, góp phần làm tan rã bộ máy kiểm soát của địch ngay từ thôn, xã.
Bên cạnh nhiệm vụ chiến đấu, công tác kéo dân về vùng thưa dân và vùng trắng dân cũng có nhiều tiến bộ. Ở Tuy Phước, ta đưa được 3.891 người về các xã Phước Thắng, Phước Quang, Phước Hưng, Phước Thuận. Ở An Nhơn, ta kéo được 5.600 người về Nhơn An, Nhơn Hậu, Nhơn Mỹ. Việc đưa dân trở về quê cũ không chỉ có ý nghĩa dân sinh, mà còn là nhiệm vụ chính trị quan trọng, góp phần khôi phục vùng ta, củng cố thế trận lòng dân và phá âm mưu gom dân, lập khu dồn của địch.
Đặc biệt, thực hiện chủ trương “3 nắm”, phong trào ở Quy Nhơn cũng có nhiều chuyển biến. Ta nắm được 6.000 dân ở 7 thôn vùng ven và 6 khu vực nội thị; tranh thủ 30.000 dân ngụy; nắm và tranh thủ 6 trung đội phụ quân, 13 tề phường, ấp, khóm, vùng. Điều đó cho thấy công tác chính trị, binh vận và xây dựng cơ sở trong vùng địch kiểm soát tiếp tục được chú trọng, tạo điều kiện cho phong trào cách mạng phát triển sâu rộng.
Câu chuyện Thu 1973 ở An Nhơn, Phù Cát, Tuy Phước và vùng ven Quy Nhơn là một trang sử đáng nhớ trong những năm tháng thời hoa lửa của quân và dân Bình Định. Đó là câu chuyện về sự phối hợp chặt chẽ giữa tiến công quân sự, diệt ác phá kìm, binh vận và vận động Nhân dân trở về làng cũ.
Trong hoàn cảnh địch ngoan cố phá hoại Hiệp định Paris, quân và dân Bình Định vẫn bền bỉ bám đất, giữ làng, đánh địch, phá kìm, giành dân, xây dựng cơ sở. Những chiến công ấy đã góp phần làm thất bại một bước âm mưu “bình định” của Mỹ - ngụy, giữ vững thế trận cách mạng và chuẩn bị cho những thắng lợi lớn hơn trên con đường giải phóng hoàn toàn quê hương.



