Người hoạt động cách mạng trước năm 1945

THỦ KHOA HUÂN

Thủ Khoa Huân (Nguyễn Hữu Huân, 1830–1875) là biểu tượng ngời sáng của tinh thần sĩ phu yêu nước kiên trung nửa cuối thế kỷ XIX. Từ bỏ con đường quan lộ, ông dấn thân lãnh đạo kháng chiến chống Pháp với ý chí sắt đá qua ba lần dựng cờ khởi nghĩa và một lần bị lưu đày tận Nam Mỹ. Năm 1875, để bảo toàn sinh mạng cho thuộc hạ, ông tự nộp mình, khước từ mọi cám dỗ và hiên ngang đón nhận án tử tại quê nhà. Khí phách lẫm liệt cùng bài thơ tuyệt mệnh của vị "Thánh nho" cầm súng không chỉ khiến thực dân

TP. Hồ Chí Minh12/06/2026Trần Nguyễn Khánh Duy (Đoàn trường Đại học Sài Gòn)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

THỦ KHOA HUÂN

Thủ Khoa Huân (Nguyễn Hữu Huân 1830–1875) sinh tại làng Tịnh Hà, huyện Kiến Hưng, tỉnh Định Tường (nay là xã Mỹ Tịnh An, tỉnh Đồng Tháp).

Năm 1852, dưới triều vua Tự Đức, ông đi thi và đỗ đầu kỳ thi Hương tại trường thi Gia Định. Từ đó, dân gian kính trọng gọi ông là Thủ khoa Huân.

Khi Pháp chiếm Định Tường (1861), thay vì chọn con đường quan lộ an thân, ông từ bỏ áo thụng đình trung, phối hợp với các sĩ phu như Võ Duy Dương (Thiên Hộ Dương) chiêu mộ nghĩa binh kháng chiến.

Chính sử ghi nhận Thủ khoa Huân là nhân vật khiến thực dân Pháp "vừa nể vừa sợ" bởi sự kiên trì nhẫn nại hiếm có: ba lần khởi nghĩa và từng bị lưu đày.

• Lần thứ nhất: Ban đầu ông hoạt động mạnh tại vùng Tân An - Mỹ Tho, sau đó đem nghĩa quân gia nhập lực lượng của Trương Định vào năm 1862. Sau khi căn cứ Tân Hòa thất thủ, ông về Bình Cách (Tân An) trực tiếp lãnh đạo nghĩa quân Định Tường, sau đó ông chuyển quân từ Bình Cách về Thuộc Nhiêu (Cai Lậy). Cuối năm 1863, ông rút về An Giang hội quân cùng Thiên hộ Dương. Pháp gửi tối hậu thư ép Tổng đốc An Giang là Phan Khắc Thận phải giao nộp ông. Pháp thậm chí điều 500 quân và đại bác từ Campuchia xuống uy hiếp thành An Giang.

Trước sức ép quân sự, Tổng đốc An Giang đành giao nộp ông. Pháp đưa ông về Sài Gòn dụ hàng nhưng thất bại. Ngày 22/8/1864, ông bị kết án 10 năm tù khổ sai và bị đày sang Cayenne (Nam Mỹ).

• Lần thứ hai: Được ân xá sau 5 năm bị lưu đày, Pháp đưa ông về nước vì nghĩ ông đã nhụt chí. Nhưng ngay khi về đến Sài Gòn, ông lập tức liên lạc với các văn thân yêu nước để chuẩn bị khởi nghĩa tại vùng Mỹ Tho, Tân An. Trong khi cuộc khởi nghĩa đang được chuẩn bị khẩn trương, nhờ do thám nên Pháp bắt được thuyền chở vũ khí, ông ra lệnh giải tán nghĩa quân và bỏ trốn.

• Lần thứ ba: Năm 1872, ông lại tiếp tục dựng cờ khởi nghĩa cùng với Âu Dương Lân ở vùng Bình Cách, Mỹ Tho. Lần này dân chúng theo Nguyễn Hữu Huân rất đông, trong số đó có cả một số hương chức, hội tề, địa chủ... Địa bàn kháng chiến của ông kéo dài từ Mỹ Tho đến Mỹ Quý - Cai Lậy. Lực lượng nghĩa quân của ông gây cho Pháp nhiều tổn thất bằng lối đánh du kích.

Năm 1875, do có kẻ phản bội dẫn đường, quân Pháp bao vây căn cứ. Để bảo toàn lực lượng cho thuộc hạ, ông đã tự nộp mình.

Pháp dùng mọi thủ đoạn để mua chuộc, hứa phong chức cao tước trọng nhưng ông chỉ đáp lại bằng sự im lặng khinh bỉ. Ngày 19/5/1875 (tức 15 tháng Tư âm lịch), giặc đưa ông về quê nhà tại bến Mỹ Tịnh An (Chợ Gạo, Tiền Giang) để hành quyết nhằm uy hiếp tinh thần dân chúng.

Tập Tiểu truyện Thủ khoa Huân, bản chữ quốc ngữ của Trần Văn Thông chép: “Ngày rằm tháng Tư năm Ất Hợi 1875, quân Pháp phái chiến hạm đưa Thủ khoa Nguyễn về nguyên quán tại làng Tịnh Hà chịu tử hình. Tại đây có cất một cái giàn cao, có binh lính giàn hầu hai bên. Đoạn mới mời ngài lên giàn. Khi ngài lên giàn xong, đoạn ngài truyền lịnh cho làng tổng sắm một khay trầu rượu dưng lên. Ngài day về hướng bắc bái tạ quân vương 12 lạy, đoạn day về hướng nam [thực ra, pháp trường đặt tại đầu cầu Tịnh Hà, thì mộ của thân phụ ông ở hướng tây (thôn Tân Hương), còn mộ thân mẫu ông nằm ở hướng đông (thôn Tịnh Hà)] là nơi phần mộ của cha mẹ, khóc ba tiếng, rót rượu phục 12 lạy: chịu cái thất hiếu cùng tổ tông. Xong, ông cất bút thảo bài thơ tuyệt mạng và đôi liễn để lại vợ con thờ. Bài thơ này và đôi liễn, trong bà con chép rồi quân Pháp lấy đem về chánh quốc để vô hàn lâm viện làm kỷ niệm một đấng anh hùng nước Việt Nam vì nước quyên sinh”

Tuyệt mệnh thi

“Hãn mã nan kham vị quốc cừu,

Chỉ nhân binh bãi trí thân hưu.

Anh hùng mạc bả doanh thâu luận,

Vũ trụ trường khan tiết nghĩa lưu.

Vô bố dĩ kinh Hồ lỗ phách,

Bất hàng cam đoạn tướng quân đầu.

Đương niên Tho thuỷ ba lưu huyết,

Long đảo thu phong khởi mộ sầu.”

(Bản dịch của Phan Bội Châu)

Bài thơ tuyệt mệnh

“Ruổi dong vó ngựa trả thù chung,

Binh bại cho nên mạng phải cùng.

Tiết nghĩa vẫn lưu cùng vũ trụ,

Hơn thua sá kể với anh hùng!

Nổi xung mất vía quân Hồ lỗ,

Quyết thác không hàng, rạng núi sông.

Tho Thuỷ ngày rày pha máu đỏ,

Đảo Rồng hiu hắt ngọn thu phong”

Thủ Khoa Huân không chỉ là một thủ lĩnh quân sự mà còn là linh hồn của phong trào kháng chiến sĩ phu. Sự hy sinh của ông đánh dấu sự chuyển mình của phong trào yêu nước: từ chỗ tự phát, phò vua (Cần Vương) sang một tinh thần yêu nước dân tộc sâu sắc hơn.

Ngày nay, tại Chợ Gạo, Tiền Giang, đền thờ và mộ của ông là di tích lịch sử quốc gia, luôn nghi ngút khói hương của người dân nhớ về một vị "Thánh nho" cầm súng.

Nguồn: Cội nguồn Lịch sử và Văn hóa

Chân dung Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân (Nguồn: VTV online)

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn