Giangtvx Thượng tá  Bài viết: 25560 | 
| Re: Thư tình từ chiến hào - Thượng tướng Vũ Lăng« Trả lời #2 vào lúc: 20 Tháng Mười Hai, 2016, 01:12:29 am » |
Khi lăn lộn trận mạc ông gầy hẳn đi, râu ria mọc ra tua tủa không kịp cạo. Ông trở thành người dữ tướng. "Ông Lăng râu xồm" các chiến sĩ thường gọi ông như vậy. Đôi mắt rực lửa, Vũ Lăng hò hét lúc giáp trận và rất nóng nảy. Quyết đoán, chính xác và kỷ luật nghiêm là những đặc tính của ông trên chiến trường.
Chiến sĩ đồn đại về tài chỉ huy của ông. Có lúc giáp chiến, ông vẫn ngậm tẩu thuốc lá và cầm batoong chỉ trỏ hướng tiến quân. Với tư thế đĩnh đạc, với bộ râu quai nón, có lúc đội quân phía Pháp tưởng là chỉ huy của chúng nên đã không bắn và ngược lại có lúc quân ta tưởng ông là quân địch nên suýt bắn nhầm.
Từ chiến dịch Điện Biên Phủ, Vũ Lăng là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 98 - Đại đoàn 316 được giao nhiệm vụ đánh đồi C1 , một vị trí rất mạnh trên năm ngọn đồi sống còn của quân Pháp, phía đông tập đoàn cứ điểm. Trận chiến đấu diễn ra hết sức ác liệt trong suốt ba mươi mốt ngày đêm và đã chiến thắng giòn giã. Người ta lại nhắc nhiều tới tên ông - là Trung đoàn trưởng, nhưng cũng với một cây tiểu liên, ông đã lên tận cứ điểm quần nhau với địch cùng với các chiến sĩ.
Từ tháng 4 năm 1956 đến tháng 6 năm 1959, Vũ Lăng được cử đi học tại Học viện Quân sự Bộ Tổng tham mưu Liên Xô. Về nước, ông là Viện phó Viện Khoa học quân sự - Bộ Quốc phòng Việt Nam.
Từ năm 1965, Vũ Lăng đợc đề bạt đại tá và được điều làm Tư lệnh phó Quân khu 4. Ông đã tham gia các chiến dịch Khe Sanh, Đường 9 - Nam Lào. Sau đó ông được điều làm Cục phó, rồi Cục trưởng Cục Tác chiến, một cục quan trọng nhất của Bộ Tổng tham mưu.
Cuối năm 1973, Vũ Lăng được phong quân hàm Thiếu tướng và là Tư lệnh trưởng chiến trường Tây Nguyên (B3), chiến trường trọng điểm của cuộc tiến công và nổi dậy trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Sau đó ông được cử làm Phó tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên. Với kinh nghiệm dày dạn về công tác tham mưu, đánh hiệp đồng binh chủng, Vũ Lăng đã cùng với Bộ chỉ huy B3 đề xuất thiết kế trận đánh Buôn Ma Thuột - trận mở màn cho chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.
Tháng 3 năm 1975, Vũ Lăng làm Tư lệnh trưởng Quân đoàn. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, Quân đoàn 3 do ông làm Tư lệnh có vinh dự lớn nhận mũi đột kích chủ yếu theo hướng tây bắc, đường 22 (bây giờ là đường số 1), đồng thời thọc sâu đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất và tiếp chiếm Bộ Tổng tham mưu chính quyền Sài Gòn.
Năm 1977, Vũ Lăng được cử làm Viện trưởng Học viện Lục quân Đà Lạt suốt 11 năm cho đến ngày ông ra đi. Ông đã xây dựng một đội ngũ giáo viên có trình độ lý luận khoa học quân sự.
Ông được phong Trung tướng năm 1980, Thượng tướng năm 1986, đồng thời phong học hàm Giáo sư (1986). Là một trong sáu giáo sư đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Năm 1988, Vũ Lăng lâm bạo bệnh và ra đi ở một bệnh viện cấp cao Liên Xô.
*
* * Nếu không có quá khứ thì sẽ chẳng có tương lai. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã hơn nửa thế kỷ. Đọc lại những bức thư của Thượng tướng Vũ Lăng gửi cho người yêu, người vợ từ những ngày còn yêu nhau cho đến trước và sau mỗi cuộc chiến đấu, mỗi cuộc hành quân vào chiến dịch qua suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, lần này cũng vậy tôi không sao ngăn được ý muốn là tìm lại ảnh ông và nhìn ngắm thật lâu, thật lâu . . .
Cuối năm 1948, Vũ Lăng gặp cô nữ sinh Hà Nội mười bảy tuổi - Hoàng Việt Hoa đang công tác tại một bộ phận văn phòng Bộ Tổng tư lệnh, khi đó chàng trai ba mươi tuổi đang là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 54, làm nhiệm vụ bảo vệ các cơ quan đầu não.
Qua những cuộc tiếp xúc, trò chuyện, qua những lá thư hai người đã yêu nhau và cùng đính ước vào ngày 26 tháng 4 năm 1949 tại Xóm Chòi huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên, trước khi ông lên đường ra mặt trận. Hai năm sau, lễ thành hôn của họ được tổ chức vào ngày 11 tháng 2 năm 1951 (mồng 6 Tết âm lịch) tại Phục Linh huyện Đại Từ trong sự mừng vui của bạn bè và đồng đội. Sau này bà Hoàng Việt Hoa là dược sĩ - trung tá quân đội. Hai ông bà sống rất hạnh phúc và đã có với nhau bốn người con (ba trai, một gái).
Ngoài mối tình nồng nàn, sâu sắc với người vợ - bà Hoàng Việt Hoa kéo dài từ năm 1948 cho tới khi ông ra đi, trong cuộc đời ông còn có một mối tình đầu bi kịch. Một cô gái Hà Nội khi chia tay người yêu đã tặng chàng quyển sổ nhật ký gần hai trăm trang, còn Vũ Lăng tặng lại cô khẩu súng ngắn, chiến lợi phẩm để cô tiếp tục chiến đấu và bảo vệ mình. Khi nhận tin đồn người yêu tử trận trong trận chiến với binh đoàn Bô-phờ-rê và sau đó cô cũng có nhiều khúc mắc trong cuộc sống riêng nên cô đã dùng chính khẩu súng ngắn đó để tự kết liễu đời mình.
Khi chưa được biết ông, tôi thường hình dung những vị tướng trận mạc là những con người khô khan và khắc khổ. Nhưng khi tìm hiểu để hoàn thành bộ phim tài liệu dài bốn mươi phút về chân dung ông, tôi đã gặp nhiều điều bất ngờ và thú vị: ông là vị tướng mà khi nhắc đến tên ông nhiều vị tướng khác đã phải khóc. Vợ ông, bà đã khóc khi kể lại tình yêu của ông dành cho bà. Còn tôi, tôi cũng đã khóc khi được đọc hàng trăm bức thư tình của ông viết, được động chạm đến những tâm tư tình cảm sâu kín nhất, những góc ẩn khuất của tâm hồn một người lính, một người tình, một người chồng, một người đàn ông trong thời chiến – Cái thời mà khi thế hệ chúng tôi lớn lên đã may mắn không phải trải qua.
Tôi hiểu, nhân cách của một vị tướng, một người chỉ huy và nhân cách của một người đàn ông bình thường trong ông đã làm cho tôi và mọi người phải ngưỡng mộ.
Có lẽ gia tài Vũ Lăng để lại cho người vợ yêu dấu của mình mà bà Việt Hoa trân trọng gìn giữ nhất lại là một va ly đầy thư đó. Tình yêu của ông bà là tình yêu của một thế hệ Việt Nam trong thời chiến. Cho dù cuộc tình của họ chỉ là một mảnh nhỏ, một góc hẹp, nhưng qua những lá thư và những trangnhật ký của Vũ Lăng từ 1949 đến 1954 trong cuốn sách này chúng ta cũng vẫn thấy hiển hiện cuộc đời thực thật sống động của những người lính Việt Nam. Hơn hết nó còn thể hiện sâu thẳm cả một cuộc chiến tranh khốc liệt của nhân dân Việt Nam và những người lính Pháp đã phải trải qua. Nó sẽ mãi là một kho tư liệu quý giá cho những ai quan tâm và cần tìm hiểu về cuộc chiến tranh của người Pháp ở Việt Nam.
Biên kịch và đạo diễn Nguyễn Hải Anh |