Khác

Thư tình từ chiến hào (1)

Hai cuộc trường kỳ kháng chiến vĩ đại của dân tộc Việt Nam chống thực dân Pháp và đê' quốc Mỹ đã sản sinh ra những vị tướng vừa có phẩm chất vừa có tài năng, trưởng thành từ cơ sở. Vũ Lăng từng đảm nhận cấp tiểu đoàn ngay từ những ngày đầu thủ đô Hà Nội đứng lên kháng chiến. Tiếp theo đó đã từng là trung đoàn rồi sư đoàn, trung đoàn ở Điện Biên Phủ sau là sư đoàn rồi Phó Tư lệnh Quân khu 4, Tư lệnh B3 Tây Nguyên, Phó Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên. Cuối cùng trong cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mù

Lai Châu03/07/2026Quân đội nhân dân (xã sìn hồ)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Thượng tướng Vũ Lăng tên thật là Đỗ Đức Liêm, sinh ngày 4 tháng 8 năm 1921 trong một gia đình lao động nghèo tại xã Ngũ Hiệp huyện Thanh Trì thành phố Hà Nội.

Vũ Lăng đã sớm giác ngộ cách mạng từ đầu 1945, tham gia cướp kho thóc và cướp chính quyền ở Phủ Lý trước ngày 19 tháng 8 năm 1945.

Sau ngày 19 tháng 8 năm 1945, ông được cử đi học trường Quân chính khóa 5 tại Việt Nam học xá và Nam tiến khi quân Pháp đánh chiếm Nam Bộ.

Từ Ninh Hòa ra, ông được cử làm Đại đội phó Đại đội bảo vệ Bắc Bộ Phủ.

Kháng chiến bùng nổ. Ngày 19 tháng 12 năm 1946 Vũ Lăng được cử làm ủy viên tác chiến khu Đông Kinh Nghĩa Thục, Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 103.

Ông cùng đồng đội và nhân dân Hà Nội chiến đấu kiên cường suốt hai tháng trời trong vòng vây của Pháp Ở Hà Nội. Cuộc chiến đấu không cân sức cùng với những khẩu hiệu " Hà Nội - Sta-lin-grát của Việt Nam", "Hà Nội - mồ chôn giặc Pháp", Hà Nội khi đó đã được coi là chiến trường chính trong cuộc giao chiến đầu tiên với người Pháp.

Ngày 14 tháng 1 năm 1947 tại rạp " Tố Như " (tức rạp Chuông Vàng trên phố Hàng Bạc ngày nay), Vũ Lăng là người đại diện cho những người lính tình nguyện làm lễ tuyên thệ "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh" .

Những ngày Hà Nội trong vòng vây của giặc Pháp, trận đánh Nhà Xô Va và Tr¬ường Ke đã tỏ rõ khả năng quân sự, tư duy sắc sảo của Vũ Lăng - ủy viên tác chiến khu Đông Kinh Nghĩa Thục. Đó là hai vị trí nằm ở gần sông Hồng, kiểm soát con đường duy nhất nối liền Hà Nội với bên ngoài. Sau gần hai tháng chiến đấu, Vũ Lăng đã đưa ba nghìn đồng bào ra vùng tự do và sau đó quay về cắm cờ tại Tháp Rùa và Nhà Hát lớn.

Ngày 17 tháng 2 năm 1947 Trung đoàn Thủ Đô đã rút ra khỏi Hà Nội lên Việt Bắc tiếp tục kháng chiến.

Thu Đông 1947, giặc Pháp nhảy dù xuống Bắc Cạn và đồng thời cho quân đổ bộ tiến đánh Việt Bắc, nơi có cơ quan đầu não của Chính phủ kháng chiến. Tổng chỉ huy Võ Nguyên Giáp trực tiếp ra lệnh cho Tiểu đoàn trưởng 54 Vũ Lăng "Không cho địch vào Quảng Nạp. Bất kể tình huống nào cũng phải nổ súng chặn địch". Với mười hai ngày đêm hành quân đuổi và chặn đánh binh đoàn Bô-phờ-rê, Tiểu đoàn 54 của Vũ Lăng đã đánh bảy trận và hoàn thành xuất sắc mệnh lệnh của Tổng chỉ huy toàn quân Võ Nguyên Giáp giao phó, góp phần làm nên chiến thắng Việt Bắc lịch sử, báo chí bắt đầu nhắc nhiều đến tên ông. Khi các nhà báo phỏng vấn, Vũ Lăng đã trả lời. "Thật vinh dự cho chúng tôi được nghênh chiến với binh đoàn Bô-phờ-rê. Đánh kẻ thù mà phải học kẻ thù ”.

Sau đó ông liên tục tham gia các trận đánh oai hùng Bồng Lai, Sông Lô, Đại Bục . . . các chiến dịch Tây Bắc, Lê Hồng Phong, Hà Nam Ninh, Sông Thao, Biên Giới, Trung Du...

Trong tâm trí các chiến sĩ Trung đoàn Thủ Đô năm xưa luôn ghi nhớ hình ảnh một người chỉ huy vóc hình nhỏ bé, đẹp trai, râu quai nón, mắt sáng quắc. Bình thường ông hay cưỡi con ngựa Đờ-gôn bất kham, áo quần bảnh bao, đầu tóc chải chuốt, miệng ngậm píp, rất sành rượu Tây như một chàng công tử Hà Nội, hào hoa phong nhã. Ông vui tính và có kiến thức rất rộng. Khi rảnh rỗi ông thích làm thơ, viết truyện ngắn, viết thư cho vợ và viết nhật ký. Nhưng thời thế đã tạo nên con đường binh nghiệp cho ông.

Logged

Giangtvx

Thượng tá
*
Bài viết: 25560

Re: Thư tình từ chiến hào - Thượng tướng Vũ Lăng« Trả lời #2 vào lúc: 20 Tháng Mười Hai, 2016, 01:12:29 am »

Khi lăn lộn trận mạc ông gầy hẳn đi, râu ria mọc ra tua tủa không kịp cạo. Ông trở thành người dữ tướng. "Ông Lăng râu xồm" các chiến sĩ thường gọi ông như vậy. Đôi mắt rực lửa, Vũ Lăng hò hét lúc giáp trận và rất nóng nảy. Quyết đoán, chính xác và kỷ luật nghiêm là những đặc tính của ông trên chiến trường.

Chiến sĩ đồn đại về tài chỉ huy của ông. Có lúc giáp chiến, ông vẫn ngậm tẩu thuốc lá và cầm batoong chỉ trỏ hướng tiến quân. Với tư thế đĩnh đạc, với bộ râu quai nón, có lúc đội quân phía Pháp tưởng là chỉ huy của chúng nên đã không bắn và ngược lại có lúc quân ta tưởng ông là quân địch nên suýt bắn nhầm.

Từ chiến dịch Điện Biên Phủ, Vũ Lăng là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 98 - Đại đoàn 316 được giao nhiệm vụ đánh đồi C1 , một vị trí rất mạnh trên năm ngọn đồi sống còn của quân Pháp, phía đông tập đoàn cứ điểm. Trận chiến đấu diễn ra hết sức ác liệt trong suốt ba mươi mốt ngày đêm và đã chiến thắng giòn giã. Người ta lại nhắc nhiều tới tên ông - là Trung đoàn trưởng, nhưng cũng với một cây tiểu liên, ông đã lên tận cứ điểm quần nhau với địch cùng với các chiến sĩ.

Từ tháng 4 năm 1956 đến tháng 6 năm 1959, Vũ Lăng được cử đi học tại Học viện Quân sự Bộ Tổng tham mưu Liên Xô. Về nước, ông là Viện phó Viện Khoa học quân sự - Bộ Quốc phòng Việt Nam.

Từ năm 1965, Vũ Lăng đợc đề bạt đại tá và được điều làm Tư lệnh phó Quân khu 4. Ông đã tham gia các chiến dịch Khe Sanh, Đường 9 - Nam Lào. Sau đó ông được điều làm Cục phó, rồi Cục trưởng Cục Tác chiến, một cục quan trọng nhất của Bộ Tổng tham mưu.

Cuối năm 1973, Vũ Lăng được phong quân hàm Thiếu tướng và là Tư lệnh trưởng chiến trường Tây Nguyên (B3), chiến trường trọng điểm của cuộc tiến công và nổi dậy trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Sau đó ông được cử làm Phó tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên. Với kinh nghiệm dày dạn về công tác tham mưu, đánh hiệp đồng binh chủng, Vũ Lăng đã cùng với Bộ chỉ huy B3 đề xuất thiết kế trận đánh Buôn Ma Thuột - trận mở màn cho chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Tháng 3 năm 1975, Vũ Lăng làm Tư lệnh trưởng Quân đoàn. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, Quân đoàn 3 do ông làm Tư lệnh có vinh dự lớn nhận mũi đột kích chủ yếu theo hướng tây bắc, đường 22 (bây giờ là đường số 1), đồng thời thọc sâu đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất và tiếp chiếm Bộ Tổng tham mưu chính quyền Sài Gòn.

Năm 1977, Vũ Lăng được cử làm Viện trưởng Học viện Lục quân Đà Lạt suốt 11 năm cho đến ngày ông ra đi. Ông đã xây dựng một đội ngũ giáo viên có trình độ lý luận khoa học quân sự.

Ông được phong Trung tướng năm 1980, Thượng tướng năm 1986, đồng thời phong học hàm Giáo sư (1986). Là một trong sáu giáo sư đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Năm 1988, Vũ Lăng lâm bạo bệnh và ra đi ở một bệnh viện cấp cao Liên Xô.

*

* *
Nếu không có quá khứ thì sẽ chẳng có tương lai. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã hơn nửa thế kỷ. Đọc lại những bức thư của Thượng tướng Vũ Lăng gửi cho người yêu, người vợ từ những ngày còn yêu nhau cho đến trước và sau mỗi cuộc chiến đấu, mỗi cuộc hành quân vào chiến dịch qua suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, lần này cũng vậy tôi không sao ngăn được ý muốn là tìm lại ảnh ông và nhìn ngắm thật lâu, thật lâu . . .

Cuối năm 1948, Vũ Lăng gặp cô nữ sinh Hà Nội mười bảy tuổi - Hoàng Việt Hoa đang công tác tại một bộ phận văn phòng Bộ Tổng tư lệnh, khi đó chàng trai ba mươi tuổi đang là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 54, làm nhiệm vụ bảo vệ các cơ quan đầu não.

Qua những cuộc tiếp xúc, trò chuyện, qua những lá thư hai người đã yêu nhau và cùng đính ước vào ngày 26 tháng 4 năm 1949 tại Xóm Chòi huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên, trước khi ông lên đường ra mặt trận. Hai năm sau, lễ thành hôn của họ được tổ chức vào ngày 11 tháng 2 năm 1951 (mồng 6 Tết âm lịch) tại Phục Linh huyện Đại Từ trong sự mừng vui của bạn bè và đồng đội. Sau này bà Hoàng Việt Hoa là dược sĩ - trung tá quân đội. Hai ông bà sống rất hạnh phúc và đã có với nhau bốn người con (ba trai, một gái).

Ngoài mối tình nồng nàn, sâu sắc với người vợ - bà Hoàng Việt Hoa kéo dài từ năm 1948 cho tới khi ông ra đi, trong cuộc đời ông còn có một mối tình đầu bi kịch. Một cô gái Hà Nội khi chia tay người yêu đã tặng chàng quyển sổ nhật ký gần hai trăm trang, còn Vũ Lăng tặng lại cô khẩu súng ngắn, chiến lợi phẩm để cô tiếp tục chiến đấu và bảo vệ mình. Khi nhận tin đồn người yêu tử trận trong trận chiến với binh đoàn Bô-phờ-rê và sau đó cô cũng có nhiều khúc mắc trong cuộc sống riêng nên cô đã dùng chính khẩu súng ngắn đó để tự kết liễu đời mình.

Khi chưa được biết ông, tôi thường hình dung những vị tướng trận mạc là những con người khô khan và khắc khổ. Nhưng khi tìm hiểu để hoàn thành bộ phim tài liệu dài bốn mươi phút về chân dung ông, tôi đã gặp nhiều điều bất ngờ và thú vị: ông là vị tướng mà khi nhắc đến tên ông nhiều vị tướng khác đã phải khóc. Vợ ông, bà đã khóc khi kể lại tình yêu của ông dành cho bà. Còn tôi, tôi cũng đã khóc khi được đọc hàng trăm bức thư tình của ông viết, được động chạm đến những tâm tư tình cảm sâu kín nhất, những góc ẩn khuất của tâm hồn một người lính, một người tình, một người chồng, một người đàn ông trong thời chiến – Cái thời mà khi thế hệ chúng tôi lớn lên đã may mắn không phải trải qua.

Tôi hiểu, nhân cách của một vị tướng, một người chỉ huy và nhân cách của một người đàn ông bình thường trong ông đã làm cho tôi và mọi người phải ngưỡng mộ.

Có lẽ gia tài Vũ Lăng để lại cho người vợ yêu dấu của mình mà bà Việt Hoa trân trọng gìn giữ nhất lại là một va ly đầy thư đó. Tình yêu của ông bà là tình yêu của một thế hệ Việt Nam trong thời chiến. Cho dù cuộc tình của họ chỉ là một mảnh nhỏ, một góc hẹp, nhưng qua những lá thư và những trangnhật ký của Vũ Lăng từ 1949 đến 1954 trong cuốn sách này chúng ta cũng vẫn thấy hiển hiện cuộc đời thực thật sống động của những người lính Việt Nam. Hơn hết nó còn thể hiện sâu thẳm cả một cuộc chiến tranh khốc liệt của nhân dân Việt Nam và những người lính Pháp đã phải trải qua. Nó sẽ mãi là một kho tư liệu quý giá cho những ai quan tâm và cần tìm hiểu về cuộc chiến tranh của người Pháp ở Việt Nam.

Biên kịch và đạo diễn
Nguyễn Hải Anh

Logged

Giangtvx

Thượng tá
*
Bài viết: 25560

Re: Thư tình từ chiến hào - Thượng tướng Vũ Lăng« Trả lời #3 vào lúc: 20 Tháng Mười Hai, 2016, 01:17:31 am »

THƯ TỪ 1949 ĐẾN 1954


Trên Đèo Khế 13g30' ngày 27 tháng 4 năm 1949

Việt Hoa thân mến,


Tôi viết thư này cho Hoa khi ngựa dừng bước ở trên Đèo Khế. Suốt từ sáng tới trưa ngựa phi không hề biết mỏi, bây giờ ngồi dưới bóng cây mát trên đèo, ngoảnh nhìn về phương cũ, lòng người đi cũng thấy đôi chút bâng khuâng.

Nhớ lại lần trước ra đi cô đơn thì lần này thấy tâm hồn đã hết lẻ loi rồi. Hai chuyến đi cách nay có năm tháng trời mà thấy cách nhau xa, giờ là một đêm trăng cũng như đêm trăng trước thì hẳn đêm trăng này không còn thấy lạnh nữa.

Trong lúc tỳ lên một tảng đá mà viết mấy dòng này tôi lại nhớ lại cái phút rung cảm của ngày 26 tháng 4 năm 1949 hồi 12 giờ (Hoa thấy tôi nhớ chưa) . Tất cả những cảm giác nặng nề của mấy ngày hôm trước tan đi hết, tôi đã thấy hiểu Hoa hơn, lúc nắm lấy tay Hoa thấy lòng mình rung động mạnh, tôi đã nhận thêm một nhiệm vụ mới, nặng nề và thiêng liêng và đã nắm chặt trong tay nhiệm vụ đó. Giờ đây phải bắt tay vào việc để làm tròn nhiệm vụ, làm tròn lời hứa, song một mình thì khó làm nổi, Hoa còn phải giúp đỡ tôi nhiều. Hoa hãy hứa với tôi thế nhé .

. . Tôi mong Hoa sẽ viết thư cho tôi, viết dài vào kể cho tôi nghe rõ những cảm xúc của Hoa hôm ấy ( 26 tháng 4 năm 1949 hồi 12 giờ ). Chắc là Hoa sẽ không ngại ngần gì mà không viết cho tôi những cảm xúc, những ý nghĩ của mình. Và mong rằng tôi sẽ được đọc những lời dịu dàng và thân mật hơn tất cả những thư trước. Thân mật đúng với ý nghĩa của nó Hoa nhé.

Đáng lẽ thư này tôi phải tả cho Hoa rõ những niềm vui đẹp của lòng mình từ sau hôm ở Xóm Chòi ra về mà thấy không tả nổi. Đọc lại những cái viết ở trên thấy chưa được bằng lòng. Cần phải thay một chữ ở trong thư này đi và chữ đó, thư sau Hoa sẽ nhắc tôi nhé.

Viết tới đây tôi mỉm cười và khi ngẩng lên bất chợt mấy nười bộ hành đi ngang qua cũng nhìn tôi mỉm cười. Họ cũng cảm thông được những niềm vui đang rộn lên trong lòng tôi lúc này chăng?

Tôi trông về phương cũ, về cái khu bình yên đã bắt nguồn cho những niềm vui thì tầm mắt đã bị rừng núi âm u án ngữ mất rồi. Tầm mắt bị án ngữ nhưng hình ảnh của cái Xóm Chòi1 bên này triền núi Tam Đảo vẫn cứ hiện ra, rõ ràng và tươi đẹp như ngày 26 tháng 4 năm 1949. Nhưng ngày về sẽ còn tươi đẹp gấp bội, sẽ còn vui nhiều hơn ngày 26 tháng 4 Hoa ạ

Thân mến
Vũ Lăng


Tái bút: Tôi chợt tìm thấy một chiếc ảnh còn sót lại ở cuốn sổ tay. Gửi tặng Hoa để làm kỷ niệm ngày 26 tháng 4 năm 1949 hồi 12 giờ 6 phút.

-----------------------
1. Xóm Chòi: Thuộc huyện Đại Từ, Thái Nguyên là nơi cơ quan Văn phòng Bộ Tổng tư lệnh nơi bà Việt Hoa công tác.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn