Thủ tướng Phạm Văn Đồng
Vào một buổi chiều thu năm 1985, không gian làm việc của Thủ tướng Phạm Văn Đồng tại Phủ Chủ tịch ngập tràn ánh nắng vàng nhạt. Trên bàn làm việc của ông, ngoài những tập hồ sơ quốc gia đại sự dày cộp, chỉ có một chiếc kính lão, một cây bút mực và một bình trà nhỏ. Ông ngồi đó với mái tóc đã bạc phơ nhưng đôi mắt vẫn sáng ngời, chăm chú rà soát từng dòng chữ trong bản dự thảo báo cáo kinh tế - xã hội của đất nước.Khi người chiến sĩ cận vệ trẻ mang vào một chiếc áo đại chính mới tinh để chuẩn bị cho cuộc đón tiếp phái đoàn ngoại giao quốc tế lớn vào ngày hôm sau, vị Thủ tướng đã không tiếp nhận. Thay vào đó, ông nhẹ nhàng lật xem chiếc áo kaki cũ đã đồng hành cùng mình qua biết bao mùa mưa nắng. Đó là chiếc áo đã bạc màu theo năm tháng, phần cổ áo đã sờn một vệt dài và vải ở hai bên khuỷu tay cũng đã mỏng đi thấy rõ. Hiểu được tấm lòng của các đồng chí trong ban quản trị lo lắng cho diện mạo quốc gia, nhưng ông vẫn từ chối sự lãng phí không cần thiết. Ông chỉ dẫn người cận vệ đem khâu lộn lại phần cổ áo và đắp thêm miếng vải nhỏ vào khuỷu tay để tiếp tục sử dụng. Đối với vị lãnh đạo đứng đầu Chính phủ, vị thế của một dân tộc anh hùng được khẳng định bằng trí tuệ và tấm lòng, chứ không nằm ở những bộ quần áo bóng bẩy bên ngoài.Hành động nhỏ ấy phản ánh trọn vẹn lý tưởng mà Phạm Văn Đồng đã theo đuổi từ thuở thiếu thời. Sinh ra trong một gia đình nho học tại làng quê Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi, ông đã sớm thấm nhuần truyền thống yêu nước của quê hương. Bước ngoặt lớn nhất cuộc đời ông chính là cuộc gặp gỡ định mệnh với lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tại Quảng Châu, Trung Quốc vào năm 1925. Nhìn thấy người thầy lớn giản dị trong bộ quần áo vải thô, ăn những bữa cơm đạm bạc nhưng luôn nung nấu chí hướng giải phóng dân tộc, chàng thanh niên Phạm Văn Đồng đã tìm thấy lý tưởng của đời mình. Ông chính thức dấn thân vào con đường cách mạng, trở thành một trong những học trò xuất sắc nhất, người đồng chí trung kiên và gần gũi nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh.Suốt hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Phạm Văn Đồng luôn được Đảng và Bác Hồ giao phó những trọng trách ngoại giao và quản lý nhà nước cốt tử. Lịch sử ghi nhận ông không chỉ là một nhà ngoại giao tài ba, sắc sảo tại Hội nghị Genève năm 1954, khiến các cường quốc phải kiêng nể, mà còn là một vị tổng quản kiên cường của nền kinh tế thời chiến.Trong những năm tháng miền Bắc bị bom đạn cày xới, vị Thủ tướng hầu như không có ngày nghỉ. Ông liên tục có mặt ở những nơi ác liệt nhất, từ tuyến lửa Quân khu 4, các trọng điểm giao thông bị đánh phá tàn khốc, đến những hợp tác xã nông nghiệp đang nỗ lực bảo đảm hậu phương vững chắc cho tiền tuyến. Mỗi lần đi thực tế, ông luôn khước từ sự đón tiếp rình rang để lội xuống ruộng cùng nông dân, hoặc vào tận phân xưởng hỏi han công nhân về từng bữa ăn và hũ gạo tiết kiệm.Lối sống thanh bạch của ông còn thể hiện rõ nét qua từng bữa cơm hằng ngày tại Phủ Chủ tịch. Những người từng phục vụ ông đều biết bữa ăn của vị Thủ tướng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thường chỉ gồm vài ba món giản đơn như bát canh rau muống, vài quả cà pháo muối và chút cá kho tộ. Khi ăn, ông luôn trân trọng từng hạt cơm, không bao giờ để rơi vãi, bởi ông luôn khắc cốt ghi tâm rằng mỗi hạt gạo đều đổi bằng những giọt mồ hôi cực nhọc của đồng bào.Đúng như ý nguyện của ông, sáng ngày diễn ra sự kiện ngoại giao năm 1985, Thủ tướng bước vào phòng khánh tiết với chiếc áo kaki cũ đã được lộn cổ và vá khéo ở khuỷu tay. Dù trang phục có những dấu vết của sự tiết kiệm, nhưng thần thái đỉnh đạc, nụ cười rạng rỡ và ánh mắt đầy trí tuệ của ông đã hoàn toàn cuốn hút toàn bộ phái đoàn quốc tế. Bằng vốn tiếng Pháp uyên bác, lập luận sắc bén nhưng vô cùng cởi mở, ông đã chinh phục hoàn toàn những nhà ngoại giao nước bạn, khiến họ phải trầm trồ kính trọng trước nhân cách của một bậc đại trí thức mang tâm hồn của một triết gia và sự giản dị của một vĩ nhân.Khi tuổi xế chiều, Thủ tướng Phạm Văn Đồng rời chính trường để lui về làm cố vấn và an hưởng tuổi già. Dù những năm tháng cuối đời căn bệnh nghiêm trọng khiến đôi mắt ông mờ dần và không còn nhìn rõ mặt người đối diện, nhưng trí tuệ của ông vẫn mẫn tiệp kỳ lạ. Tình yêu thương con người và nỗi trăn trở cho vận mệnh đất nước trong ông chưa bao giờ vơi cạn. Hằng ngày, ông vẫn nhờ trợ lý đọc báo để theo dõi sát sao tin tức về bão lũ miền Trung, chuyện học hành của trẻ em vùng sâu vùng xa, hay những bước đi của công cuộc Đổi mới.Cho đến những giây phút cuối cùng của cuộc đời vào năm 2000, tài sản lớn nhất mà vị Thủ tướng để lại cho đời không phải là của cải vật chất, mà là một kho tàng di sản tinh thần vô giá với hàng trăm cuốn sách, bài viết về văn hóa, giáo dục và tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng. Người học trò xuất sắc của Bác Hồ đã đi trọn một cung đường thế kỷ đầy biến động nhưng vô cùng vinh quang. Chiếc áo kaki sờn vai ngày ấy mãi mãi là một biểu tượng đẹp, nhắc nhở thế hệ mai sau về một nhân cách lớn suốt đời vì nước, vì dân. |



