Thương binh Trần Văn Xuân, 1945
Năm 1963, đang làm cán bộ đoàn, ông viết đơn tình nguyện ra tiền tuyến. Vào quân ngũ, ông được biên chế vào huấn luyện ở Đại đội 3, Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 95, Sư đoàn 325, sau đó được cử đi học Trường Hạ sĩ quan ở Thanh Hóa. Khi ra trường, ông về lại đơn vị cũ và được bổ nhiệm tiểu đội trưởng, rồi trung đội trưởng. Chuẩn bị cho chiến dịch Đường 9 Khe Sanh, năm 1966, đơn vị ông được lệnh hành quân vào Quảng Trị để mở “đường máu”. Trước lúc đi ông được kết nạp Đảng và cũng như mọi người, ông viết quyết tâm thư bằng máu.
Tháng 5/1967, ông dẫn đơn vị luồn sâu vào điểm cao 900 nắm tình hình thì bị địch phát hiện. Chúng dùng hỏa lực bắn tới tấp vào đội hình, ông bị một mảnh đạn xuyên đầu ngất lịm. Địch dùng trực thăng quần lượn, phát hiện ông còn sống, chúng đưa về Đà Nẵng cứu chữa để lấy thông tin. Khi ông tỉnh lại, chúng còng tay, còng chân, bẻ hết răng để ông không cắn lưỡi chết, sau đó tuốt hết móng tay, móng chân.
Hai tên lính Mỹ và một phiên dịch hỏi cung:
Mày vào đây làm gì?
Mắt ông trợn ngược căm thù, chúng hỏi đi hỏi lại, ông vẫn không mở lời. Sau đó, chúng dùng thanh sắt nung đỏ ép vào má, ông sôi máu nói to: Choa vào đây đánh bay chứ làm gì?! Bọn cướp nước!
Một tên lính bực tức trở báng súng đánh vào thái dương, mắt phải ông trồi ra chúng dùng kìm giật ra, ông ngất lịm đi. Khi ông tỉnh lại, chúng bỏ vào chiếc rọ sắt đưa vào nhà tù ở Biên Hòa (Đồng Nai).
Tại đây, chúng cho ông đứng trong xà lim 3 tháng liền, hai chân tụ máu sưng to, ruồi, muỗi bâu vết thương đen kịt nhiễm trùng nặng. Mỗi lần đưa ông ra hỏi cung, chúng bắt ngồi trên kiềng thép gai rồi dí điện vào người và dùng lưỡi cày nung đỏ dí vào hai mông cháy hết thịt vào tận xương nhưng ông vẫn không khai. Tra tấn mọi hình thức không có kết quả, chúng dụ dỗ cho ăn ngon, mặc đẹp, hứa cho về đoàn tụ với gia đình nhưng ông vẫn kiên định.
Không lấy được thông tin, cuối cùng chúng bỏ ông vào lồng sắt đưa ra Côn Đảo. Đến Côn Đảo, ông Xuân đi không vững, chúng dùng dây kéo lê vào chuồng cọp. Vết thương trên người ông lở loét, sưng mủ. Mỗi khi đói, ông bốc những hạt cơm hôi thối ăn, uống nước tiểu cho qua ngày…
Hơn 6 năm ở nhà tù Côn Đảo (1967 - 1973), địch dùng mọi hình thức tra tấn vẫn không lay chuyển được ý chí của ông. Năm 1973, thực hiện Hiệp định Paris về trao trả tù binh, ông Xuân (người đã báo tử vào năm 1968) được trở về đơn vị.
Hơn 10 năm chiến đấu, tham gia nhiều trận đánh lớn nhỏ, ông Xuân 2 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ và nhiều huân, huy chương khác.
Qua câu truyện của ông Trần Văn Xuân ta thấy đc tình cảnh khó khăn gian khổ của những người lính Việt Nam vào những năm giữa thế kỉ 19 . Vì thế để báo đáp lại công lao to lớn này chúng ta cầntrả ơn với tổ quốc , với những người lính tham gia cách mạng , ta cần trưởng thành nỗ lực học tập xây dựng đất nước giàu đẹp hơn



