Thượng tướng Lê Ngọc Hiền - Vị tướng "ông Hiền tác chiến", là Tham mưu trưởng Chiến dịch Hồ Chí Minh, làm đám cưới đặc biệt giữa hội nghị tổng kết
Thượng tướng Lê Ngọc Hiền - Vị tướng "ông Hiền tác chiến", là Tham mưu trưởng Chiến dịch Hồ Chí Minh, làm đám cưới đặc biệt giữa hội nghị tổng kết
Tham gia cách mạng từ tuổi thiếu niên, trải qua nhiều chiến trường ác liệt, Thượng tướng Lê Ngọc Hiền có hơn nửa cuộc đời binh nghiệp gắn với công tác tham mưu, tác chiến.
Từ chàng trai 16 tuổi tham gia cách mạng đến cán bộ tác chiến của Bộ Tổng Tham mưu
Thượng tướng Lê Ngọc Hiền - tên khai sinh Nguyễn Ngọc Thiện, sinh năm 1928, quê ở Hà Nội. Năm 1944, khi mới 16 tuổi, ông tham gia hoạt động cách mạng. Đến tháng 5/1945, ông nhập ngũ và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.
Từ tháng 10/1944, Lê Ngọc Hiền tham gia in và phát hành báo Độc lập tại địa phương. Tháng 3/1945, ông được giao nhiệm vụ Bí thư Thanh niên cứu quốc thị xã Sơn Tây; đến tháng 5 cùng năm, ông theo học Trường Quân chính kháng Nhật, đồng thời tham gia công tác xây dựng cơ sở và bảo đảm giao thông từ chiến khu Việt Bắc về Hòa Bình.
Sau Cách mạng Tháng Tám, từ tháng 8/1945 đến tháng 4/1947, ông công tác trong lực lượng bộ đội địa phương tại các tỉnh Sơn Tây, Ninh Bình và Nam Định. Từ tháng 5/1947 đến tháng 2/1955, Lê Ngọc Hiền lần lượt đảm nhiệm các cương vị Tiểu đoàn trưởng, Trung đoàn phó, Trung đoàn trưởng tại các Trung đoàn 48, 64 và 66 thuộc Đại đoàn 320. Tháng 11/1953, ông được bổ nhiệm làm Tham mưu trưởng Đại đoàn 320 và giữ cương vị này đến tháng 2/1955.
Khi làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 48, ông đã gặp người sau này trở thành bạn đời của mình là bà Lương Ngọc Thư. Ông biết đến cô gái 17 tuổi qua một bức ảnh do người bạn cũ giới thiệu. Khi ấy, bà Thư đang theo học lớp hộ sinh. Hai người bắt đầu tìm hiểu nhau chủ yếu bằng thư từ trong điều kiện chiến tranh, mỗi người một nơi.

Thượng tướng Lê Ngọc Hiền và vợ - bà Lương Ngọc Thư. Ảnh: Tư liệu.
Ngày 15/4/1955, Bộ Tư lệnh Đại đoàn 320 đồng ý để hai người làm đám cưới. Lễ thành hôn diễn ra rất đặc biệt trong một hội nghị tổng kết phát động giảm tô có hàng nghìn cán bộ tham dự. Không có phông cưới, lễ nghi cầu kỳ, cô dâu chú rể thậm chí vẫn ngồi giữa hội nghị như những cán bộ bình thường. Sau đó, mỗi người lại tiếp tục nhiệm vụ của mình.
Từ tháng 3/1955 đến tháng 7/1970, Lê Ngọc Hiền công tác tại Bộ Tổng Tham mưu. Ông lần lượt giữ các chức vụ Cục phó rồi Cục trưởng Cục Quân huấn, Cục phó rồi Cục trưởng Cục Tác chiến. Tháng 4/1962, ông được cử đi học tại Học viện Bộ Tổng Tham mưu Vô-rô-si-lốp của Liên Xô.
Công tác tác chiến trở thành lĩnh vực gắn bó đặc biệt với ông. Theo Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, trong cuộc đời binh nghiệp, khoảng một nửa thời gian Lê Ngọc Hiền làm công tác tác chiến, vì vậy đồng đội thường gọi bằng cái tên thân mật là “ông Hiền tác chiến”.
Từ năm 1967, ông trực tiếp trở lại chiến trường miền Nam. Tại chiến trường Trị Thiên - Đường 9, ông giữ chức Phó Tư lệnh Mặt trận B5. Vào cuối năm 1967, trên cương vị này, ông đã phổ biến cho lực lượng tăng thiết giáp về chủ trương mở chiến dịch tiến công Đường 9 nhằm kéo quân Mỹ ra khỏi các đô thị, tạo điều kiện cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968. Tháng 8/1970, ông được cử làm phái viên của Bộ tại Bộ Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam, sau đó giữ chức Tham mưu phó Bộ Tư lệnh Miền.
6 tháng xây dựng kế hoạch chiến lược và trọng trách ở trận quyết chiến cuối cùng
Năm 1974 đánh dấu một bước ngoặt lớn trong cuộc đời binh nghiệp của đồng chí Lê Ngọc Hiền. Tháng 4/1974, ông được Bộ Tổng Tham mưu triệu tập ra Bắc và được trao quyết định phong quân hàm Thiếu tướng, giữ chức Phó Tổng Tham mưu trưởng và nhận nhiệm vụ cùng Cục Tác chiến xây dựng kế hoạch tác chiến chiến lược giải phóng miền Nam.
Từ tháng 5 đến cuối tháng 10/1974, Lê Ngọc Hiền cùng cán bộ Cục Tác chiến tập trung xây dựng kế hoạch. Công việc đòi hỏi tổng hợp tình hình trên toàn chiến trường sau Hiệp định Paris, so sánh lực lượng hai bên, nghiên cứu từng địa bàn và dự kiến hướng tiến công. Theo hồi ức của ông kể lại sau này, mỗi ngày cơ quan tác chiến phải xử lý hàng trăm bức điện từ các chiến trường gửi về. Nhiều ngày cán bộ làm việc đến nửa đêm hoặc 1-2 giờ sáng để đọc, phân tích và đánh giá tình hình.
Một nội dung quan trọng của kế hoạch là lựa chọn Tây Nguyên làm chiến trường chủ yếu của cuộc tiến công lớn năm 1975. Sau khi kế hoạch hoàn thành, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương thảo luận, cơ bản nhất trí và yêu cầu tiếp tục bổ sung chi tiết.
Từ tháng 10 đến tháng 12/1974, kế hoạch được hoàn chỉnh đến cấp chiến dịch. Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng từ ngày 18/12/1974 đến 8/1/1975 sau đó thông qua kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam trong hai năm 1975-1976, đồng thời xác định rõ nếu thời cơ xuất hiện thì giải phóng miền Nam ngay trong năm 1975.

Thượng tướng Lê Ngọc Hiền (ngoài cùng, bên trái) cùng Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh tại Lộc Ninh tháng 4/1975. Ảnh: Tiền Phong
Sau chiến thắng Phước Long đầu năm 1975, cục diện chiến trường chuyển biến nhanh chóng. Ngày 5/2/1975, đoàn đại diện Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh mang bí danh A75 do Đại tướng Văn Tiến Dũng dẫn đầu bí mật lên đường vào chiến trường. Trong đoàn có Phó Tổng Tham mưu trưởng Lê Ngọc Hiền cùng nhiều cán bộ cao cấp.
Những thắng lợi liên tiếp ở Tây Nguyên, Huế, Đà Nẵng trong tháng 3/1975 khiến thời cơ chiến lược đến nhanh hơn dự kiến. Ngày 8/4/1975, tại căn cứ Tà Thiết ở Lộc Ninh, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định. Đại tướng Văn Tiến Dũng làm Tư lệnh; đồng chí Phạm Hùng làm Chính ủy; các tướng Trần Văn Trà, Lê Đức Anh, Đinh Đức Thiện và sau đó là Lê Trọng Tấn giữ cương vị Phó Tư lệnh; tướng Lê Ngọc Hiền là Tham mưu trưởng Chiến dịch. Ngày 14/4, chiến dịch được chính thức mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thượng tướng Lê Ngọc Hiền (thứ 2 phải qua) và Đại tá Nguyễn Tiến Dũng ra chốt Ba Biên. Ảnh: Văn hoá & phát triển
Trên cương vị này, Lê Ngọc Hiền trực tiếp tham gia xây dựng kế hoạch tác chiến cho trận quyết chiến cuối cùng gồm hai bước. Bước thứ nhất là chia cắt chiến lược, bao vây, tiến công vùng ven và các mục tiêu trong nội thành để chuẩn bị cho tổng tiến công. Nếu quân đội Sài Gòn tan rã nhanh, lực lượng chủ lực sẽ phát triển thọc sâu ngay.
Bước thứ hai là tổ chức đột kích Sài Gòn trên năm hướng với lực lượng chủ lực, đặc công, biệt động và các lực lượng tại chỗ, mục tiêu là giải quyết chiến dịch trong tháng 4/1975. Lực lượng sử dụng từ 3-5 sư đoàn chủ lực, 7 đoàn đặc công, 60 tổ biệt động, cùng với lực lượng du kích khoảng 50.000 quần chúng nổi dậy tại chỗ. Nếu địch co cụm thì chuẩn bị thêm lực lượng nhưng phải giải quyết xong trong tháng 4/1975
Từ ngày 15/4/1975, cán bộ Phòng Tác chiến của Bộ Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam và Bộ Tổng Tham mưu bắt đầu thể hiện kế hoạch trên bản đồ tại Sở chỉ huy ở Tà Thiết dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thiếu tướng Lê Ngọc Hiền. Sau nhiều lần chỉnh sửa, đến ngày 21/4 bản đồ được hoàn thành.

Kỷ vật chiếc đồng hồ và chiếc la bàn của Thượng tướng Lê Ngọc Hiền. Ảnh: Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam.
Đại tá Nguyễn Hoàng Vị - một trong những cán bộ trực tiếp tham gia phác thảo bản đồ, sau này cho biết bản đồ thể hiện lực lượng gồm bốn quân đoàn chủ lực, Đoàn 232 cùng các binh chủng kỹ thuật và lực lượng địa phương, tổ chức thành năm hướng đánh vào các mục tiêu trọng yếu ở Sài Gòn.
Ngày 26/4/1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh chính thức bắt đầu. Đến trưa 30/4, chiến dịch toàn thắng, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Hai kỷ vật được Lê Ngọc Hiền sử dụng trong nhiều năm chiến đấu và trong quá trình chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh là chiếc đồng hồ và chiếc la bàn sau này được ông trao tặng Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam. Ông coi đây là hai vật dụng “bất ly thân” của người cán bộ tác chiến: một dùng xác định thời gian, một xác định phương hướng.
Từ Campuchia đến những năm cuối đời của “ông Hiền tác chiến”
Sau năm 1975, ông Lê Ngọc Hiền tiếp tục giữ chức Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Đây là cương vị ông được bổ nhiệm từ tháng 12/1974 và đảm nhiệm trong nhiều năm sau chiến tranh.
Khi chiến tranh biên giới Tây Nam diễn biến phức tạp, ông tiếp tục tham gia công tác chỉ huy, tham mưu. Tháng 2/1987, ông Lê Ngọc Hiền được giao nhiệm vụ Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia.
Trong quá trình công tác, ông được thăng quân hàm Thiếu tướng năm 1974, Trung tướng năm 1980 và Thượng tướng năm 1986. Ông từng là Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IV, Ủy viên Trung ương Đảng khóa V và VI, Ủy viên Đảng ủy Quân sự Trung ương, đại biểu Quốc hội khóa VII.
Năm 1989, Lê Ngọc Hiền trở về Hà Nội. Đến tháng 10/1995, ông nghỉ hưu. Thượng tướng Lê Ngọc Hiền từ trần năm 2006. Ông được an táng tại Nghĩa trang Mai Dịch, Hà Nội. Với những đóng góp trong sự nghiệp cách mạng và quân đội, ông được tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng cùng nhiều huân, huy chương cao quý khác.
(Nguồn thông tin tham khảo: Cổng Thông tin điện tử Chính phủ/Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam; Báo Quân đội Dhân dân; Báo Nhân Dân; VietNamNet. baochinhphu.vn)



