Anh hùng Lực lượng vũ trang

Thượng tướng Nguyễn Chơn: Sư đoàn trưởng chưa từng thua trận

Đà Nẵng27/10/2026Xã Lộc Quang (Đoàn xã Lộc Quang)7 lượt xem0 lượt chia sẻ

VỊ SƯ ĐOÀN TRƯỞNG BẤT BẠI VÀ ĐÁM CƯỚI ĐI VÀO LỊCH SỬ

PĐ - Được nhiều đồng đội nhắc đến như là vị Sư đoàn trưởng chưa từng thua trận nào, Thượng tướng Nguyễn Chơn không chỉ để lại dấu ấn đậm nét trên chiến trường mà còn cả trong đời thường, với một đám cưới đặc biệt: Bác Hồ gửi quà mừng, Phó Thủ tướng Võ Chí Công làm chủ hôn, nhiều lãnh đạo cấp cao đến dự, chia vui và chúc mừng.

Thượng tướng Nguyễn Chơn: Sư đoàn trưởng chưa từng thua trận

Thượng tướng Nguyễn Chơn sinh năm 1927 tại xã Hòa Minh, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng cũ. Ông từng là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI, VII; Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Đại biểu Quốc hội khóa VIII và được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân.

Gia nhập quân đội năm 1946 và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1949, Thượng tướng Nguyễn Chơn sớm trưởng thành qua thực tiễn chiến đấu ác liệt. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, ông hoạt động chủ yếu trên chiến trường Khu 5 và chiến trường Trị - Thiên.

Ngay từ khi còn là cán bộ cấp phân đội, Nguyễn Chơn đã thể hiện rõ tố chất chỉ huy với cách đánh quyết đoán, nhanh gọn và chú trọng hạn chế thương vong cho bộ đội.

Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, ông nhiều lần trực tiếp xông vào trận địa, chỉ huy bộ đội đột kích, tiêu diệt sinh lực địch. Đáng chú ý, đơn vị do Nguyễn Chơn chỉ huy từng tham gia đánh phá tập đoàn phòng ngự phía bắc Kon Tum, tiêu diệt gọn một đơn vị quân Pháp tại khu vực đèo An Khê, Gia Lai.

Đặc biệt, năm 1947, khi công tác tại Đội cảm tử quân thuộc Tiểu đoàn 14, Trung đoàn 803, Liên khu 5, Nguyễn Chơn cùng đồng đội tham gia trận đánh đồn Thu Bồn, tiêu diệt gọn một đại đội lính Âu - Phi của quân Pháp.

Sau Hiệp định Geneva năm 1954, Nguyễn Chơn tập kết ra Bắc. Trải qua thời gian học tập, rèn luyện tại Trường Sĩ quan Lục quân, ông cùng 29 cán bộ được điều trở lại chiến trường miền Nam. Về Khu 5, Nguyễn Chơn cùng đội ngũ cán bộ chủ chốt được giao nhiệm vụ xây dựng, củng cố lực lượng vũ trang Quảng Nam.

Năm 1965, Trung đoàn 1, Sư đoàn 2 cơ động vào Quảng Ngãi. Từ ngày 29 đến 31/5, đơn vị liên tiếp tiến công, tiêu diệt 4 tiểu đoàn lính ngụy, giải phóng một vùng rộng lớn ở phía tây Sơn Tịnh. Chiến thắng này góp phần quan trọng vào việc làm phá sản chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ trên chiến trường miền Nam. Nguyễn Chơn trực tiếp cùng đồng đội tham gia trận Ba Gia, một trong những trận đánh nổi bật của lực lượng vũ trang Khu 5 thời kỳ này.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Nguyễn Chơn trở lại chiến trường Khu 5. Từ cán bộ tiểu đoàn, ông lần lượt trưởng thành qua nhiều cương vị chỉ huy, trong đó có Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1, còn gọi là Trung đoàn Ba Gia, thuộc Sư đoàn 2. Đây là đơn vị hoạt động chủ yếu trên chiến trường Quảng Nam - Đà Nẵng.

Trong Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, Nguyễn Chơn trực tiếp chỉ huy trung đoàn tiến công quân địch tại thành phố Đà Nẵng, gây cho đối phương nhiều tổn thất. Cuối năm 1970, ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn 2.

Đầu năm 1971, Nguyễn Chơn chỉ huy Sư đoàn 2, khi đó chưa đủ biên chế, tham gia Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào. Sau chiến dịch, đơn vị tiếp tục được giao nhiệm vụ tiến sang giải phóng cao nguyên Bô-lô-ven của Lào.

Đến năm 1972, ông chỉ huy Sư đoàn 2 phối hợp với Bộ tư lệnh Tây Nguyên tham gia Chiến dịch Bắc Tây Nguyên. Tại Đắc Tô - Tân Cảnh, khả năng nắm bắt tình hình và tổ chức tác chiến linh hoạt của Nguyễn Chơn được thể hiện rõ khi kế hoạch tiến công một cụm cứ điểm quan trọng của đối phương, dự kiến kéo dài 7 ngày rút xuống chỉ còn 24 giờ.

Trong cuộc Tổng tiến công năm 1975, dưới sự chỉ huy của Nguyễn Chơn, Sư đoàn 2 tiến công giải phóng thị xã Tam Kỳ, sau đó phối hợp với lực lượng vũ trang Quân khu 5 tiến vào giải phóng thành phố Đà Nẵng.

Sau ngày đất nước thống nhất, ông Nguyễn Chơn tiếp tục đảm nhiệm nhiều cương vị quan trọng trong quân đội. Từ năm 1979, ông giữ chức Tư lệnh Quân đoàn 2, sau đó là Tư lệnh Quân khu 5, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Cuối năm 1993, ông được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

“Nhất Tấn, nhì An, tam Đan, tứ Chơn”

Trong đánh giá của nhiều tướng lĩnh và cán bộ từng công tác cùng thời, Nguyễn Chơn là một trong những chỉ huy có năng lực thực tiễn nổi bật. Thượng tướng, Giáo sư Hoàng Minh Thảo từng dành sự đánh giá cao đối với tài thao lược của ông.

Ông cũng được nhiều cán bộ cùng thời cho là một nhà chỉ huy quân sự xuất sắc; là sư đoàn trưởng chưa từng thua trận nào, một vị tướng bậc thầy về lối đánh xóa sổ hoàn toàn đơn vị địch.

Đặc biệt, trong giới quân sự Việt Nam thường lưu truyền câu “Nhất Tấn, nhì An, tam Đan, tứ Chơn” - tương ứng Đại tướng Lê Trọng Tấn, Thượng tướng Nguyễn Hữu An, Thiếu tướng Hoàng Đan và Thượng tướng Nguyễn Chơn.

Câu nói được cho là của Thượng tướng Hoàng Minh Thảo đúc kết, song trong một bài phỏng vấn với báo Quân đội nhân dân, vị Thượng tướng vui vẻ nói do "dân gian" truyền miệng, câu nói ấy thực ra nói về 4 sư đoàn trưởng đánh trận tiêu biểu của quân đội ta, những vị tướng ra chiến trường nhiều nhất.

Tên tuổi Thượng tướng Nguyễn Chơn gắn bó đặc biệt với Sư đoàn 2, Quân khu 5, đơn vị từng được mệnh danh là “Sư đoàn thép”. Với những đóng góp trong quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của đơn vị, ông được nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ xem là một trong những người chỉ huy tiêu biểu của Sư đoàn 2. Sau này, Sư đoàn 2 còn được vinh danh với tên gọi “Sư đoàn Nguyễn Chơn”.

Tháng 8/1987, Nguyễn Chơn được bổ nhiệm làm Phó tổng Tham mưu trưởng phụ trách tác chiến, sau này ông tiếp tục được thăng quân hàm Thượng tướng, giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Ông là người trực tiếp đi khảo sát Trường Sa và các tuyến đảo gần bờ, tham mưu với Chính phủ, Bộ Quốc phòng về xây dựng chiến lược phòng thủ Biển Đông; chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ chiến lược, công trình phòng thủ dọc tuyến biên giới, biển đảo, thể hiện tầm nhìn chiến lược về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Trong lời tựa của cuốn tiểu thuyết sử thi “Vị chỉ huy huyền thoại” do NXB Quân đội nhân dân phát hành năm 2009 cũng có đoạn viết về Thượng tướng Nguyễn Chơn: “Nguyễn Chơn chiến đấu và chiến thắng hàng trăm trận, mưu trí sáng tạo, dũng cảm, nắm chắc lực lượng ta, hiểu rõ tình hình địch, quyết đoán, luôn giành thế chủ động, dồn địch vào thế bị động. Bất ngờ, sắc sảo trong giải quyết hiệu quả những tình huống ngẫu nhiên mới nảy sinh… là những nét đặc sắc nhất trong cuộc đời chỉ huy trận mạc của Thượng tướng Nguyễn Chơn…”.

Hai vợ chồng đều là Anh hùng Lực lượng vũ trang

Anh hùng Nguyễn Chơn và Anh hùng Trần Thị Lý gặp nhau tại Hà Nội. Sau một thời gian tìm hiểu, cùng với sự quan tâm, vun đắp của nhiều đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước và quân đội, hai người quyết định xây dựng gia đình. Giữa năm 1977, lễ cưới của họ được tổ chức tại Đoàn 871.

Đây được xem là một đám cưới đặc biệt bởi có sự hiện diện của nhiều đồng chí lãnh đạo cấp cao. Đồng chí Võ Chí Công - khi đó là Phó thủ tướng Chính phủ, đảm nhận vai trò chủ hôn. Các đồng chí Lê Đức Thọ - Trưởng ban Tổ chức Trung ương; Võ Nguyên Giáp - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Chu Huy Mân - Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; Văn Tiến Dũng - Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam... đều đến dự và chúc mừng đôi vợ chồng. Thủ tướng Phạm Văn Đồng do bận công việc không thể có mặt đã gửi tặng hai cây bút. Đại sứ Cuba cùng đại sứ một số nước cũng đến chung vui.

Một kỷ niệm đặc biệt khác trong lễ cưới là cô dâu, chú rể được nhận những món quà của Bác Hồ gồm hai chiếc đồng hồ Poljot và một số mét vải. Bác đã đi xa nhiều năm trước đó, đồng chí Vũ Kỳ - thư ký của Bác, thay mặt Bác mang quà đến trao cho cô dâu và chú rể, giữ đúng lời Bác từng căn dặn Anh hùng Trần Thị Lý trong một lần chị được gặp Người: “Lúc nào cháu xây dựng gia đình, báo cho Bác biết để Bác đến chúc mừng”.

Lễ cưới càng trở nên đặc biệt khi cả cô dâu và chú rể đều là sĩ quan quân đội, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và đại biểu Quốc hội. Khi ấy, chú rể Nguyễn Chơn mang quân hàm Đại tá, giữ cương vị Sư đoàn trưởng, từng chiến đấu trên các chiến trường Khu 5, Tây Nguyên và Hạ Lào.

Cô dâu Trần Thị Lý là Đại úy, cán bộ chính trị của Đoàn 871, từng có nhiều năm chiến đấu, công tác trong thời kỳ chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ, đặc biệt tại khu vực Đồng Hới, Quảng Bình.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn