Bài viết

Thượng tướng Nguyễn Hữu An – "Vị tướng trận mạc", dũng tướng chỉ huy những trận đánh then chốt làm thay đổi cục diện chiến tranh

Bài viết tái hiện sinh động cuộc đời, xuất thân, sự nghiệp binh nghiệp oanh liệt cùng những đóng góp quân sự vĩ đại của Thượng tướng Nguyễn Hữu An – nguyên Giám đốc Học viện Quốc phòng, người trực tiếp ra lệnh kích nổ bộc phá 1.000kg xóa sổ đồi A1 tại Điện Biên Phủ (1954), dũng tướng chiến thắng trận Ia Đrăng lịch sử (1965) và Tư lệnh Quân đoàn 2 tiến vào cắm cờ trên nóc Dinh Độc Lập (1975).

Ninh Bình30/10/2026Đoàn phường Bến Cát (Phường Bến Cát)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Thượng tướng Nguyễn Hữu An – "Vị tướng trận mạc", dũng tướng chỉ huy những trận đánh then chốt làm thay đổi cục diện chiến tranh

Thời kỳ lịch sử

Kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, Chiến tranh bảo vệ biên giới và thời kỳ Xây dựng, Bảo vệ Tổ quốc (1945 – 1995)


I. Xuất thân, quê hương và bước đầu dấn thân vào con đường cách mạng (1926 – 1945)

Thượng tướng Nguyễn Hữu An sinh ngày 01 tháng 10 năm 1926 (có tài liệu ghi ngày 15 tháng 10 năm 1926) tại xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình (nay thuộc phường Tây Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình). Quê hương ông là vùng đất cố đô ngàn năm văn hiến, có bề dày lịch sử lâu đời và giàu truyền thống cách mạng. Chính không khí yêu nước sục s sôi của vùng đất Hoa Lư đã sớm bồi đắp, hun đúc nên ý chí kiên cường và lòng căm thù giặc sâu sắc trong tâm hồn người thanh niên Nguyễn Hữu An.

  • Sớm dấn thân theo tiếng gọi Tổ quốc: Tháng 8 năm 1945, khi làn sóng Cách mạng Tháng Tám bùng nổ khắp cả nước, người thanh niên Nguyễn Hữu An vừa tròn 19 tuổi đã quyết định nhập ngũ, chính thức tham gia quân đội và dấn thân vào con đường hoạt động cách mạng.

  • Nhờ tinh thần chiến đấu dũng cảm, sự thông minh và nỗ lực học hỏi không ngừng trong môi trường quân ngũ, chỉ vài tháng sau khi nhập ngũ, đến tháng 12 năm 1945, đồng chí Nguyễn Hữu An vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam).

  • Sự kiện kết nạp Đảng ở tuổi 19 đã mở đầu cho hành trình tròn nửa thế kỷ (1945 – 1995) chiến đấu, cống hiến trọn vẹn sức lực và trí tuệ của ông cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam chính quy, hiện đại.


    II. Tôi luyện qua kháng chiến chống thực dân Pháp và dấu ấn lịch sử tại đồi A1 Điện Biên Phủ (1945 – 1954)

    Ngay từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đồng chí Nguyễn Hữu An đã trực tiếp có mặt trên những chiến trường cam go nhất và nhanh chóng trưởng thành qua thực tiễn chiến đấu.

    1. Những chiến công mở màn từ đèo Bông Lau đến đồn Đông Khê

    • Năm 1949, ông trực tiếp tham gia chiến đấu và chỉ huy các trận đánh nổi tiếng tại đèo Bông Lau và Lũng Phầy.

  • Trong Chiến dịch Biên giới năm 1950, đồng chí Nguyễn Hữu An đảm nhiệm vị trí Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 251 – tiểu đoàn chủ công của Trung đoàn 174 (Trung đoàn Cao Bắc Lạng). Ông đã trực tiếp chỉ huy đơn vị tấn công và tiêu diệt hoàn toàn đồn Đông Khê, xé rách tuyến phòng thủ đường 4 của địch, mở đầu cho thắng lợi rực rỡ của toàn chiến dịch.

  • Tên tuổi của ông tiếp tục gắn liền với các trận chiến thắng vang dội trên cương vị Tiểu đoàn trưởng rồi Trung đoàn phó tại các mặt trận Bình Liêu, Vĩnh Phúc, Mộc Châu....

  • 2. Mốc son lịch sử đồi A1 tại Chiến dịch Điện Biên Phủ (1954)

    • Vị chỉ huy trẻ tuổi nhất mặt trận: Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, ở tuổi 28, Nguyễn Hữu An là một trong những cán bộ chỉ huy trẻ nhất cấp trung đoàn trên toàn mặt trận. Ông đảm nhiệm trọng trách Trung đoàn trưởng Trung đoàn 174 thuộc Đại đoàn 316.

  • Ba lần tiến công cứ điểm kiên cố nhất: Trung đoàn 174 do ông chỉ huy được Bộ Tư lệnh chiến dịch giao nhiệm vụ tiến công đồi A1 – một trong những điểm cao có vị trí chiến lược sống còn và kiên cố nhất trong tập đoàn cứ điểm Mường Thanh. Tại đây, cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt và giằng co từng tấc đất. Nguyễn Hữu An đã ba lần trực tiếp chỉ huy Trung đoàn 174 tổ chức các đợt tiến công nảy lửa lên đồi A1.

  • Sáng kiến đào hầm và đặt khối bộc phá 1.000 kg: Khi quân ta gặp muôn vàn khó khăn trước hệ thống hầm ngầm cố thủ kiên cố của địch, Trung đoàn trưởng Nguyễn Hữu An đã táo bạo đề xuất phương án đào một đường hầm ngầm luồn sâu vào lòng đồi A1 để đặt một khối bộc phá cực lớn.

    • Ngày 03 tháng 4 năm 1954, ông trực tiếp báo cáo phương án này với Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp và được phê chuẩn.

  • Ngay sau đó, lực lượng công binh đã phối hợp chặt chẽ với Trung đoàn 174 bí mật đào đường hầm xuyên vào lòng đồi và vận chuyển, đặt thành công khối bộc phá nặng tới 1.000 kg.

  • Tiếng nổ xé trời mở đường thắng lợi: Đêm ngày 06 tháng 5, rạng sáng ngày 07 tháng 5 năm 1954, chính Trung đoàn trưởng Nguyễn Hữu An đã trực tiếp ra lệnh phát nổ khối bộc phá 1.000 kg. Tiếng nổ dữ dội làm xé rách đồi A1, làm rung chuyển toàn bộ hệ thống phòng thủ của địch, tiêu diệt hoàn toàn cứ điểm A1 và mở đường cho các đơn vị quân ta tràn xuống đánh chiếm cánh đồng Mường Thanh, dứt điểm toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

  • Giải tỏa nỗi oan sau chiến dịch: Sau chiến dịch, do những khó khăn và giằng co ở đợt tiến công trước, Trung đoàn 174 từng bị phê bình vì chưa hoàn thành nhiệm vụ. Phải nhiều năm sau, Đại tướng Võ Nguyên Giáp mới chính thức xác nhận rằng người chỉ huy Nguyễn Hữu An năm xưa đã bị phê bình oan, bởi thực tế ông đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong một hoàn cảnh vô cùng nghiệt ngã.


  • III. Dũng tướng chiến trường chống Mỹ và chiến công Ia Đrăng lừng lẫy làm chấn động nước Mỹ (1954 – 1973)

    Trải qua kháng chiến chống Pháp, đồng chí Nguyễn Hữu An tiếp tục bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước với tư cách là một trong những tướng lĩnh dày dạn kinh nghiệm trận mạc nhất.

    1. Tiến vào Nam Bộ và trận đánh đầu tiên ở mặt trận B3

    • Năm 1964, trên cương vị Sư đoàn trưởng, ông trực tiếp chỉ huy Sư đoàn 325 hành quân vượt Trường Sơn vào miền Nam chiến đấu.

  • Khi vào đến Tây Nguyên (mặt trận B3), ông được bổ nhiệm làm Phó Tư lệnh Mặt trận B3. Tại đây, ông đã chỉ đạo và trực tiếp chỉ huy Trung đoàn 101 đánh tiêu diệt gọn Tiểu đoàn biệt động "Cọp Đen", đồng thời đánh thiệt hại nặng Trung đoàn 44 thuộc Quân lực Việt Nam Cộng hòa, tiêu diệt trung tá trung đoàn trưởng địch.

  • 2. Trận thung lũng Ia Đrăng (11/1965) – Trận đánh làm thay đổi cuộc chiến tranh ở Việt Nam

    • Bối cảnh lịch sử: Đầu tháng 9 năm 1965, để thực hiện chiến lược "Chiến tranh cục bộ", Bộ Quốc phòng Mỹ đã điều Sư đoàn kỵ binh không vận số 1 (First Cavalry Division) – đơn vị cơ động tinh nhuệ bậc nhất của quân đội Mỹ – lên án ngữ tại An Khê (Gia Lai) nhằm ngăn chặn chi viện từ Bắc vào Nam và thực hiện chiến thuật "tìm và diệt".

  • Tài dụng binh "dụ địch vào tròng": Với cương vị Thượng tá, Tham mưu phó Mặt trận B3 kiêm Tư lệnh Sở chỉ huy tiền phương chiến dịch, Nguyễn Hữu An là người trực tiếp chỉ huy trận đánh thung lũng Ia Đrăng (nằm trong khuôn khổ Chiến dịch Plei Me). Ông đã thể hiện tài năng chỉ huy xuất chúng: "Tài lừa dụ địch, điều địch vào nơi ta đã chuẩn bị và buộc chúng phải đánh theo lối đánh của ta".

    • Ban đầu, quân ta sử dụng các Trung đoàn 33, 320, 66 vây ép đồn Plei Me, phục kích tiêu diệt viện quân Sài Gòn trên Đường 21.

  • Sau đó, quân ta chủ động thực hiện nghi binh kéo Sư đoàn kỵ binh 1 Mỹ vào sâu trong thung lũng Ia Đrăng – địa hình rừng núi hiểm trở mà ta đã chọn làm trận địa quyết chiến.

  • Trận đánh phủ đầu oanh liệt: Trong đợt đụng đầu trực diện vào tháng 11 năm 1965, dưới sự chỉ huy sắc bén của Thượng tá Nguyễn Hữu An, quân ta đã đánh phủ đầu quyết liệt, tiêu diệt hoàn toàn Tiểu đoàn 2 và đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn 1 thuộc Lữ đoàn 3, Sư đoàn kỵ binh số 1 Mỹ.

    • Kết thúc chiến dịch, ta đã loại khỏi chiến đấu 2.974 tên địch, trong đó có 1.700 lính Mỹ; phá hủy 89 xe quân sự và bắn rơi 59 máy bay các loại.

  • Ý nghĩa lịch sử làm chấn động nước Mỹ:

    • Chiến thắng Ia Đrăng đã trả lời đanh thép cho câu hỏi chiến lược mang tính sống còn: "Con người hay vũ khí quyết định?".

  • Trận đánh đã làm phá sản hoàn toàn chiến thuật "trực thăng vận" vốn là niềm tự hào của quân đội Mỹ, đánh dấu sự thất bại không thể cứu vãn của chiến lược "Chiến tranh cục bộ".

  • Chính các tướng lĩnh Mỹ sau này đã phải cay đắng thừa nhận: "Ia Đrăng - trận đánh đã làm thay đổi cuộc chiến tranh ở Việt Nam". Tướng H. Moore – người trực tiếp đối đầu với ông tại Ia Đrăng – khi trở lại Việt Nam năm 1994 đã công khai thừa nhận: "Plei Me chính là cột mốc lịch sử mở đầu cho sự thất bại của quân đội Mỹ trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Nó đã làm mất uy thế bách chiến, bách thắng trong lịch sử hình thành và phát triển của quân đội Hoa Kỳ".

  • Nhà báo Mỹ Galloway từng cay đắng viết: "Trận chiến ở thung lũng Ia Đrăng đã làm chấn động đến toàn nước Mỹ, làm cho nước Mỹ suy thoái vào một thập kỷ sa lầy đẫm máu... đẩy cả dân tộc đến chỗ đối lập với chính bản thân mình".

  • 3. Xông pha trên các chiến trường khốc liệt (1971 – 1973)

    • Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (1971): Trên cương vị Sư đoàn trưởng Sư đoàn 308 (Đại đoàn Quân Tiên Phong), đồng chí Nguyễn Hữu An đã chỉ huy đơn vị lập nhiều chiến công hiển hách, góp phần đập tan hoàn toàn cuộc hành quân Lam Sơn 719 của địch.

  • Mặt trận Cánh đồng Chum (Lào): Ngay sau chiến thắng Đường 9 - Nam Lào, ông được Quân ủy Trung ương điều sang giúp Mặt trận Pathet Lào chiến đấu thu hồi lại toàn bộ vùng chiến lược Cánh đồng Chum.

  • Mặt trận Quảng Trị (6/1972): Cuối tháng 6 năm 1972, giữa lúc chiến sự tại thành cổ Quảng Trị diễn ra vô cùng ác liệt, ông lại được rút về trực tiếp chỉ huy Sư đoàn 308 chiến đấu kiên cường tại mặt trận Quảng Trị.


  • IV. Tư lệnh Quân đoàn 2 và hành trình thần tốc trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (1974 – 1975)

    Năm 1974, đồng chí Nguyễn Hữu An được Nhà nước thăng quân hàm Thiếu tướng. Đầu năm 1975, ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân đoàn 2 (Binh đoàn Hương Giang).

    1. Giải phóng Trị - Thiên, Huế và đập tan căn cứ Đà Nẵng

    • Trong Đại tiến công Mùa Xuân năm 1975, Quân đoàn 2 dưới sự chỉ huy của Thiếu tướng Nguyễn Hữu An đã lần lượt giải phóng toàn bộ tỉnh Quảng Trị và thành phố Huế.

  • Ngay sau đó, phối hợp với các lực lượng vũ trang Quân khu 5, Quân đoàn 2 đã thực hiện một trận đánh hiệp đồng táo bạo: chỉ trong 3 ngày đêm đã đánh bại gần 10 vạn lính chủ lực cơ động của quân đội Sài Gòn, đập tan hoàn toàn căn cứ liên hợp quân sự khổng lồ Đà Nẵng.

  • 2. Cuộc hành quân thần tốc 1.000 km và đập tan lá chắn Phan Rang

    • Thực hiện chỉ thị thần tốc của Bộ Tổng Tư lệnh, Tư lệnh Nguyễn Hữu An đã chỉ huy toàn bộ Quân đoàn 2 thực hiện cuộc hành quân quy mô lớn gần 1.000 km dọc theo dải đất duyên hải miền Trung để tiến về Sài Gòn.

  • Khi chạm chán tuyến phòng thủ từ xa cực kỳ kiên cố của địch tại Phan Rang, Quân đoàn 2 do ông chỉ huy đã ra tay sấm sét, đập tan hoàn bộ tuyến phòng thủ Phan Rang chỉ trong vòng 24 giờ.

  • 3. Cắm cờ trên nóc Dinh Độc Lập ngày 30 tháng 4 năm 1975

    • Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, Quân đoàn 2 là một trong 5 cánh quân chủ lực tiến công vào Sài Gòn.

  • Trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975, lực lượng đột kích của Quân đoàn 2 dưới sự chỉ huy trực tiếp của ông đã tiến thẳng vào trung tâm thành phố, cắm lá cờ chiến thắng lên nóc Dinh Độc Lập và bắt sống toàn bộ nội các chính quyền Sài Gòn, buộc Tổng thống Dương Văn Minh phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện lúc 11 giờ 30 phút. Chiến công vang dội này đã khép lại vĩnh viễn cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.


  • V. Bảo vệ biên cương Tổ quốc, cống hiến cho công tác huấn luyện quân sự và di sản bất tử (1975 – 1995)

    Sau ngày đất nước thống nhất, Thượng tướng Nguyễn Hữu An tiếp tục mang hết tài năng và kinh nghiệm phục vụ sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và xây dựng Quân đội.

    1. Trực tiếp chỉ huy chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và phía Bắc

    • Chiến dịch phản công biên giới Tây - Nam (12/1977 – 1981): Ông tiếp tục làm Tư lệnh Quân đoàn 2 trực tiếp tham gia chỉ huy chiến dịch phản công biên giới Tây - Nam, đánh tan lực lượng Khmer Đỏ diệt chủng, bảo vệ vững chắc biên giới phía Nam và giúp nhân dân Campuchia hồi sinh.

  • Chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc:

    • Trong những năm tháng chiến sự căng thẳng ở biên giới phía Bắc, đồng chí Nguyễn Hữu An được giao làm Quyền Tư lệnh Quân khu 2, trực tiếp có mặt tại chiến trường khốc liệt Vị Xuyên (Hà Tuyên) để kiểm tra, chỉ đạo tác chiến và củng cố tuyến phòng thủ.

  • Giai đoạn 1984 – 1987, ông đảm nhiệm cương vị Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu 2.

  • 2. Cống hiến cho sự nghiệp đào tạo tướng lĩnh và khoa học quân sự

    Trong giai đoạn hòa bình, ông được giao đảm nhiệm nhiều trọng trách cấp cao trong bộ máy lãnh đạo Quân đội:

    • Phó Tổng Thanh tra Quân đội.

  • Giám đốc Học viện Lục quân (1988 – 1991): Nơi ông đem toàn bộ kinh nghiệm thực chiến phong phú của mình để truyền dạy cho các thế hệ sĩ quan chỉ huy cấp chiến thuật, chiến dịch.

  • Giám đốc Học viện Quốc phòng (1991 – 1995): Đứng đầu trung tâm đào tạo tướng lĩnh và cán bộ chiến lược hàng đầu của Quân đội nhân dân Việt Nam.

  • 3. Quá trình thụ phong quân hàm cấp tướng

    • Năm 1958: Thượng tá.

  • Năm 1966: Đại tá.

  • Năm 1974: Thiếu tướng.

  • Năm 1980: Trung tướng.

  • Năm 1986: Thượng tướng.

  • 4. Đánh giá của lịch sử, danh hiệu và sự tri ân muôn đời

    • Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tôn vinh ông bằng danh hiệu cao quý "Vị tướng trận mạc".

  • Bộ tứ danh tướng: Trong giới quân sự Việt Nam, tên tuổi ông được xếp nằm trong bộ 4 danh tướng tài ba, lỗi lạc nhất: "Nhất Tấn, nhì An, tam Đan, tứ Chơn".

  • Đánh giá của Thượng tướng Giáo sư Hoàng Minh Thảo: Khi được hỏi về trình độ cầm quân của các tướng lĩnh Việt Nam, Giáo sư Hoàng Minh Thảo đã trân trọng xếp Nguyễn Hữu An ở vị trí thứ 4 (sau Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đại tướng Lê Trọng Tấn, Đại tướng Hoàng Văn Thái).

  • "Cặp bài trùng" ăn ý: Cùng với Đại tướng Lê Trọng Tấn, Thượng tướng Nguyễn Hữu An đã trở thành "cặp bài trùng" ăn ý, cặp đôi không địch thủ trong suốt mấy chục năm chinh chiến dọc ngang các chiến trường.

  • "Vị tướng của những trận đánh khó": Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam ghi nhận ông là vị tướng luôn được tin tưởng giao phó những trận đánh then chốt, những chiến trường hiểm hóc và phức tạp nhất từ Đông Khê, Điện Biên Phủ, Ia Đrăng, Trị - Thiên, Chiến dịch Hồ Chí Minh đến Vị Xuyên.

  • 5. Qua đời và phần thưởng cao quý

    Ngày 09 tháng 4 năm 1995, Thượng tướng Nguyễn Hữu An trút hơi thở cuối cùng tại Hà Nội, hưởng thọ 68 tuổi.

    Ghi nhận những cống hiến đặc biệt xuất sắc của ông đối với dân tộc, Đảng và Nhà nước đã trao tặng ông nhiều phần thưởng cao quý:

    • Truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (năm 2014).

  • Huân chương Độc lập hạng Nhất.

  • 2 Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Quân công Giải phóng hạng Ba.

  • 2 Huân chương Chiến công hạng Nhất, hạng Nhì; Huân chương Chiến thắng hạng Nhì; Huân chương Kháng chiến hạng Nhất.

  • Huân chương Chiến công Cách mạng hạng Nhất do Nhà nước Lào trao tặng.

  • Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.

  • Để ghi nhớ công lao to lớn của ông, tên tuổi của Thượng tướng Nguyễn Hữu An đã được trân trọng đặt cho các tuyến đường, phố lớn tại Thủ đô Hà Nội (quận Cầu Giấy) và trung tâm thành phố Ninh Bình.


    Thượng tướng Nguyễn Hữu An đã đi xa, nhưng tên tuổi, sự nghiệp và những chiến công oanh liệt của ông sẽ mãi mãi là niềm tự hào, là tấm gương sáng ngời về chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ quân sự Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.


    Bạn cũng đang lưu giữ
    một câu chuyện lịch sử?

    Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

    Gửi câu chuyện của bạn