THƯỢNG TƯỚNG PHẠM THANH NGÂN (SINH NĂM 1939)
Thượng tướng Phạm Thanh Ngân sinh ngày 18-4-1939 tại xã Lương Phú, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên. Quê gốc của ông ở huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên
Thượng tướng Phạm Thanh Ngân là một trong những phi công xuất sắc của Không quân nhân dân Việt Nam, từng xuất kích chiến đấu trên 100 lần, trực tiếp bắn rơi 8 máy bay của Không quân Hoa Kỳ và yểm hộ cho đồng đội bắn rơi thêm 8 chiếc khác; ông là một trong 16 phi công Việt Nam được công nhận danh hiệu Aces (Át chủ bài). Tháng 6 năm 1957, đồng chí tham gia hoạt động Đoàn Thanh niên tại địa phương; đến ngày 21 tháng 3 năm 1959 thì nhập ngũ, được biên chế về Trung đội chỉ huy, Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn Pháo binh 374, Sư đoàn 351. Tháng 4 năm 1961, trong đợt kiểm tra tuyển chọn phi công, đồng chí trúng tuyển và được cử đi huấn luyện tại Trường Dự khóa bay thuộc Cục Không quân ở sân bay Cát Bi (Hải Phòng). Tháng 10 năm 1961, đồng chí sang Liên Xô học lái máy bay MiG-17 và ngày 8 tháng 12 năm 1963 được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Tháng 10 năm 1964, đồng chí trở về nước, trở thành phi công MiG-17 của Trung đoàn Không quân 921; đến tháng 8 năm 1965 tiếp tục được cử sang Liên Xô học chuyển loại MiG-21. Tháng 6 năm 1966, đồng chí về nước, lần lượt đảm nhiệm các chức vụ Trung đội trưởng, Đại đội phó, Đại đội trưởng lái máy bay MiG-21 tại Đoàn Không quân Sao Đỏ và trực tiếp tham gia chiến đấu.
Ngày 18 tháng 6 năm 1969, khi đang là Đại úy, Đại đội trưởng thuộc Trung đoàn Không quân 921, đồng chí được tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Tháng 9 năm 1970, đồng chí tiếp tục sang Liên Xô học tại Học viện Không quân Gagarin và đến tháng 9 năm 1975 thì về nước. Tháng 6 năm 1977, đồng chí được bổ nhiệm làm Sư đoàn phó Sư đoàn Không quân 371; tháng 8 năm 1978 đi học tại Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc, tháng 3 năm 1979 trở lại đơn vị giữ chức Sư đoàn phó rồi Sư đoàn trưởng Sư đoàn Không quân 371. Tháng 8 năm 1982, lần thứ tư đồng chí sang Liên Xô học tập tại Học viện Bộ Tổng tham mưu Voroshilov; tháng 7 năm 1984 về nước, giữ chức Phó Tham mưu trưởng thứ nhất Quân chủng Không quân, phụ trách tác chiến. Tháng 9 năm 1986, đồng chí được bổ nhiệm làm Phó Tư lệnh về Chính trị, Bí thư Đảng ủy Quân chủng kiêm Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Không quân và được thăng quân hàm Thiếu tướng vào tháng 6 năm 1988.
Tháng 4 năm 1989, đồng chí giữ chức Bí thư Đảng ủy, Tư lệnh Quân chủng Không quân; tháng 9 năm 1991 được bầu làm Ủy viên Trung ương Đảng khóa VII và thăng quân hàm Trung tướng vào tháng 6 năm 1992. Tháng 1 năm 1996, đồng chí tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII và tháng 5 cùng năm được đề bạt làm Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam. Tháng 7 năm 1997, đồng chí được bầu làm Đại biểu Quốc hội khóa X; tháng 12 năm 1997 được bầu vào Bộ Chính trị khóa VIII. Từ tháng 1 năm 1998, đồng chí đảm nhiệm chức vụ Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam và đến tháng 11 năm 1999 được thăng quân hàm Thượng tướng.
Tháng 5 năm 2001, đồng chí thôi giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, được giao phụ trách Ban Tổng kết chiến lược về Quân sự và Quốc phòng trực thuộc Bộ Chính trị. Trong giai đoạn này, ông đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện hiệu quả công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2); đẩy mạnh xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, huấn luyện giỏi, sẵn sàng chiến đấu cao; đồng thời đổi mới và nâng cao chất lượng công tác dân vận, quản lý giáo dục bộ đội giữ nghiêm kỷ luật quân đội, củng cố mối quan hệ máu thịt quân – dân, góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp và khả năng chiến đấu của quân đội. Phát huy bản chất, truyền thống tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ, Thượng tướng Phạm Thanh Ngân luôn nêu cao tinh thần dũng cảm, sẵn sàng xả thân, có mặt ở những nơi gian khổ, quyết liệt nhất để bảo vệ Tổ quốc, cứu giúp nhân dân, cùng nhân dân chia ngọt sẻ bùi. Với nhiều công lao, cống hiến to lớn, ông đã được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý, trong đó có Huân chương Quân công, Huân chương Chiến công các hạng, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ, Huân chương Quân kỳ Quyết thắng, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang, nhiều Huy hiệu Hồ Chí Minh, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng cùng nhiều danh hiệu cao quý khác.
Nguồn: Báo Quân đội nhân dân



