Thượng tướng Vũ Lăng
Thượng tướng Vũ Lăng
Thượng tướng Vũ Lăng (1921 – 1988), tên thật là Đỗ Đức Liêm, quê tại xã Ngũ Hiệp, huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội. Ông sinh ra trong một gia đình yêu nước, sớm giác ngộ cách mạng.Cách mạng Tháng Tám thành công, ông được cử đi học ở Trường Quân chính Việt Nam (khóa 5). Tháng 11/1945, theo lời kêu gọi của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông tham gia đoàn quân Nam tiến vào Nam Trung Bộ chiến đấu, được cử làm chỉ đạo viên trung đội, sau đó là Phó ban huấn luyện khu 6, rồi Phó ủy viên quân sự Ninh Hòa. Tháng 6/1946, ông ra Bắc, được cử làm Đội phó Bảo vệ Bắc Bộ phủ (Hà Nội). Tháng 2/1947, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam).
Sau cuộc rút lui an toàn không mất một người lính, một khẩu súng nào vào đêm 17/2/1947 của Trung đoàn Thủ đô ra vùng tự do, Vũ Lăng là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 54, Trung đoàn Thủ đô (E102), Đại đoàn 308. Ông đã chỉ huy Tiểu đoàn đánh trận Đại Bục, mở màn chiến dịch Sông Thao, đúng ngày sinh nhật của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1949. Từ năm 1947 đến 1954, ông tham gia các Chiến dịch Việt Bắc, Sông Thao, Biên Giới, Trung Du, Hoàng Hoa Thám, Hà Nam Ninh, Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào. Từ năm 1953, ông là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 98, Đại đoàn 316, đồng thời là Tham mưu trưởng Đại đoàn. Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, Trung đoàn 98 do Vũ Lăng chỉ huy, là một trong các Trung đoàn chủ lực, đã thắng trong trận đánh đồi C1 góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến dịch.
Sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, đầu năm 1956 ông được cử đi học tập tại Học viện cao cấp Bộ Tổng tham mưu (Liên Xô) mang tên Vô-rô-xi-lốp. Ông đã cùng đồng đội hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập và trở về nước cuối năm 1959 và được cử làm Cục phó Cục Nghiên cứu khoa học quân sự Bộ Tổng tham mưu.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, trước muôn vàn khó khăn, thử thách, trên các cương vị công tác khác nhau, lúc ở cơ quan tham mưu chiến lược, khi ở các chiến trường, ông luôn thể hiện là một cán bộ quân sự có năng lực tư duy sáng tạo, nhạy bén trong tổ chức chỉ huy và tính quyết đoán. Trong giai đoạn ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (năm 1965-1967), được Bộ Quốc phòng điều động và làm Phó tư lệnh Quân khu 4. Đến nơi chiến trường đang diễn ra cuộc chiến tranh phá hoại rất ác liệt của đế quốc Mỹ, ông đã cùng với tập thể Bộ Tư lệnh Quân khu xây dựng phương án tác chiến, đẩy mạnh các hoạt động chiến đấu, đánh thắng máy bay và tàu chiến Mỹ. Bên cạnh đó, ông còn cùng Bộ Tư lệnh Quân khu 4 đào tạo được nhiều cán bộ chỉ huy bổ sung cho chiến trường miền Nam.
Thực hiện chủ trương về kiện toàn đội ngũ cán bộ chỉ huy cao cấp trong quân đội và chuẩn bị các phương án tác chiến với quân Mỹ, cuối năm 1967 ông được điều về Bộ và được cử làm Cục phó rồi Cục trưởng Cục tác chiến.
Năm 1974, theo yêu cầu của chiến trường, Thiếu tướng Vũ Lăng được cử vào giữ chức Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên. Cùng với tập thể Đảng ủy Bộ Tư lệnh mặt trận, ông phát huy tính sáng tạo của mình cùng Bộ Tư lệnh lãnh đạo mặt trận đề xuất với Bộ và tiến hành tốt công tác chuẩn bị và chỉ huy đánh trận mở màn then chốt Buôn Ma Thuột trong chiến dịch Tây Nguyên giành thắng lợi. Tháng 3/1975, Binh đoàn Tây Nguyên được thành lập Vũ Lăng là Tư lệnh, ông cùng Bộ Tư lệnh binh đoàn Tây Nguyên chỉ huy binh đoàn tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh, đánh chiếm Bộ Tổng tham mưu ngụy, góp phần quan trọng giải phóng Sài Gòn trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, năm 1977, trên cương vị mới là Viện trưởng và Bí thư Đảng ủy Học viện Lục quân, ông đã cùng Đảng ủy và Ban Giám hiệu Học viện lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng học viện đi vào nền nếp và ngày càng vững mạnh về mọi mặt. Với kinh nghiệm về xây dựng quân đội đã tích lũy được trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, ông đã có nhiều đóng góp trong nghiên cứu, đào tạo, bổ túc cán bộ tiểu đoàn, trung đoàn và phát triển khoa học quân sự. Ông chỉ đạo biên soạn hệ thống tài liệu, đáp ứng kịp thời đầy đủ cho công tác huấn luyện của tám chuyên ngành binh chủng lục quân. Những tài liệu được Hội đồng khoa học Học viện thông qua có nhiều ý kiến đóng góp và kết luận rất sâu sắc của ông, góp phần rất quan trọng trong nghiên cứu, giảng dạy ở Học viện và cả các nhà trường Quân đội.
Trong suốt những năm công tác tại Học viện Lục quân, ông đã đem hết khả năng, trí tuệ của mình để cùng với Ban Giám đốc Học viện triển khai nghiên cứu thành công nhiều công trình, đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ Quốc phòng có giá trị cao góp phần xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.
Sau cuộc rút lui an toàn không mất một người lính, một khẩu súng nào vào đêm 17/2/1947 của Trung đoàn Thủ đô ra vùng tự do, Vũ Lăng là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 54, Trung đoàn Thủ đô (E102), Đại đoàn 308. Ông đã chỉ huy Tiểu đoàn đánh trận Đại Bục, mở màn chiến dịch Sông Thao, đúng ngày sinh nhật của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1949. Từ năm 1947 đến 1954, ông tham gia các Chiến dịch Việt Bắc, Sông Thao, Biên Giới, Trung Du, Hoàng Hoa Thám, Hà Nam Ninh, Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào. Từ năm 1953, ông là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 98, Đại đoàn 316, đồng thời là Tham mưu trưởng Đại đoàn. Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, Trung đoàn 98 do Vũ Lăng chỉ huy, là một trong các Trung đoàn chủ lực, đã thắng trong trận đánh đồi C1 góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến dịch.
Sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, đầu năm 1956 ông được cử đi học tập tại Học viện cao cấp Bộ Tổng tham mưu (Liên Xô) mang tên Vô-rô-xi-lốp. Ông đã cùng đồng đội hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập và trở về nước cuối năm 1959 và được cử làm Cục phó Cục Nghiên cứu khoa học quân sự Bộ Tổng tham mưu.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, trước muôn vàn khó khăn, thử thách, trên các cương vị công tác khác nhau, lúc ở cơ quan tham mưu chiến lược, khi ở các chiến trường, ông luôn thể hiện là một cán bộ quân sự có năng lực tư duy sáng tạo, nhạy bén trong tổ chức chỉ huy và tính quyết đoán. Trong giai đoạn ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (năm 1965-1967), được Bộ Quốc phòng điều động và làm Phó tư lệnh Quân khu 4. Đến nơi chiến trường đang diễn ra cuộc chiến tranh phá hoại rất ác liệt của đế quốc Mỹ, ông đã cùng với tập thể Bộ Tư lệnh Quân khu xây dựng phương án tác chiến, đẩy mạnh các hoạt động chiến đấu, đánh thắng máy bay và tàu chiến Mỹ. Bên cạnh đó, ông còn cùng Bộ Tư lệnh Quân khu 4 đào tạo được nhiều cán bộ chỉ huy bổ sung cho chiến trường miền Nam.
Thực hiện chủ trương về kiện toàn đội ngũ cán bộ chỉ huy cao cấp trong quân đội và chuẩn bị các phương án tác chiến với quân Mỹ, cuối năm 1967 ông được điều về Bộ và được cử làm Cục phó rồi Cục trưởng Cục tác chiến.
Năm 1974, theo yêu cầu của chiến trường, Thiếu tướng Vũ Lăng được cử vào giữ chức Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên. Cùng với tập thể Đảng ủy Bộ Tư lệnh mặt trận, ông phát huy tính sáng tạo của mình cùng Bộ Tư lệnh lãnh đạo mặt trận đề xuất với Bộ và tiến hành tốt công tác chuẩn bị và chỉ huy đánh trận mở màn then chốt Buôn Ma Thuột trong chiến dịch Tây Nguyên giành thắng lợi. Tháng 3/1975, Binh đoàn Tây Nguyên được thành lập Vũ Lăng là Tư lệnh, ông cùng Bộ Tư lệnh binh đoàn Tây Nguyên chỉ huy binh đoàn tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh, đánh chiếm Bộ Tổng tham mưu ngụy, góp phần quan trọng giải phóng Sài Gòn trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, năm 1977, trên cương vị mới là Viện trưởng và Bí thư Đảng ủy Học viện Lục quân, ông đã cùng Đảng ủy và Ban Giám hiệu Học viện lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng học viện đi vào nền nếp và ngày càng vững mạnh về mọi mặt. Với kinh nghiệm về xây dựng quân đội đã tích lũy được trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, ông đã có nhiều đóng góp trong nghiên cứu, đào tạo, bổ túc cán bộ tiểu đoàn, trung đoàn và phát triển khoa học quân sự. Ông chỉ đạo biên soạn hệ thống tài liệu, đáp ứng kịp thời đầy đủ cho công tác huấn luyện của tám chuyên ngành binh chủng lục quân. Những tài liệu được Hội đồng khoa học Học viện thông qua có nhiều ý kiến đóng góp và kết luận rất sâu sắc của ông, góp phần rất quan trọng trong nghiên cứu, giảng dạy ở Học viện và cả các nhà trường Quân đội.
Trong suốt những năm công tác tại Học viện Lục quân, ông đã đem hết khả năng, trí tuệ của mình để cùng với Ban Giám đốc Học viện triển khai nghiên cứu thành công nhiều công trình, đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ Quốc phòng có giá trị cao góp phần xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.



