Thượng tướng Vũ Lăng từ chiến sĩ đọc lời thề quyết tử đến vị tướng anh hùng
Thượng tướng Vũ Lăng từ chiến sĩ đọc lời thề quyết tử đến vị tướng anh hùng
Chúng ta đang tiến hành những hoạt động kỷ niệm lớn chào mừng 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975/30-4-2025) mà trong đó, những trận đánh lịch sử, nhân chứng lịch sử luôn được nhắc đến như một sự tri ân, ôn lại truyền thống hào hùng, nhắc nhở mỗi chúng ta phải suy nghĩ và hành động hữu ích hơn trong cuộc sống. Cá nhân tôi cũng vậy, tôi đã thực hiện một loạt các cuộc gặp gỡ, trò chuyện, phỏng vấn, tiếp cận tài liệu và viết về nhiều vị tướng, nhân chứng lịch sử. Đó luôn là trách nhiệm và niềm vui nghề nghiệp đối với tôi.
Khi thực hiện loạt bài về Trung tướng Đoàn Sinh Hưởng, nguyên Tư lệnh Quân khu 4, nguyên Tư lệnh Binh chủng Tăng thiết giáp, ông đã nói với tôi: “Chúng ta đang thực hiện các hoạt động kỷ niệm 50 năm ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước mà trong đó, Chiến dịch Tây Nguyên mang ý nghĩa vô cùng to lớn, có tính quyết định, là bước ngoặt dẫn đến Bộ Chính trị hạ quyết tâm Giải phóng miền Nam ngay trong năm 1975. Nhắc đến Chiến dịch Tây Nguyên, điểm nhấn là chiến thắng Buôn Mê Thuột mà không nhắc đến Thượng tướng Vũ Lăng là không đủ. Với cá nhân tôi, ông luôn là vị tướng lừng danh ở Tây Nguyên”.Thượng tướng Vũ Lăng là ai? Tìm hiểu các nguồn tư liệu trong quân sử và gia đình, Vũ Lăng sinh năm 1921, ông quê xã Ngũ Hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Là một người thông minh, hiếu học, Vũ Lăng đã sớm tham gia cách mạng từ trước năm 1945. Tháng 11 năm 1945, Vũ Lăng tham gia đoàn quân Nam tiến khi giặc Pháp gây hấn ở Sài Gòn, rồi lần lượt mở rộng chiến tranh ra toàn miền Nam và Nam Trung bộ. Đơn vị do ông chỉ huy đã chiến đấu tại chiến trường Khu 6, thuộc tỉnh Bình Thuận. Trong chiến đấu, ông đã có nhiều thành tích, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 2 năm 1947. Sau đó, Vũ Lăng được điều động ra Bắc, ông lần lượt đảm nhiệm các chức vụ chỉ huy quan trọng: Trung đoàn phó Trung đoàn Thủ đô, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 98 đánh Điện Biên Phủ. Tháng 5 năm 1954, ông là Tham mưu trưởng Sư đoàn 316. Hòa bình lập lại, năm 1956, Vũ Lăng được cử sang Liên Xô học ở Học viện Vô-rô-xi-lốp. Kháng chiến chống Mỹ, ông được giao nhiều nhiệm vụ quan trọng và đã góp phần công sức vào các công tác chỉ huy chiến đấu trên nhiều mặt trận, tổ chức nghiên cứu khoa học phục vụ chiến đấu, đào tạo cán bộ quân sự. Trên cơ sở những đóng góp đó, ông được phong quân hàm Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1980), Thượng tướng (1986), và được tặng thưởng nhiều Huân chương cao quý.
Thượng tướng Vũ Lăng (1921 - 1988) - Ảnh: Tư liệu gia đìnhMột điều đặc biệt, Toàn quốc kháng chiến bùng nổ tháng 12 năm 1946, Vũ Lăng khi đó vừa từ mặt trận Nha Trang ra Bắc được phân công làm Ủy viên tác chiến của Trung đoàn Thủ đô tham gia chiến đấu bảo vệ Bắc Bộ Phủ. Các chiến sĩ Quyết tử quân của Trung đoàn Thủ đô đã chiến đấu anh dũng suốt hai tháng trời trong vòng vây của địch. Ngày 14 tháng 1 năm 1947, tại rạp Chuông Vàng - Hà Nội, trong buổi Lễ Tuyên thệ của Trung đoàn Thủ đô, Vũ Lăng với cương vị tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 103 cùng hai chiến sĩ Trung đoàn Thủ đô được cử lên nhận thanh kiếm quyết tử và đọc lời thề: “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” trong đó có câu: “Hôm nay, chúng ta làm lễ khai sinh đội quân Quyết tử. Chúng ta thề sống chết bảo vệ Thủ đô. Con cháu chúng ta sẽ lấy ngày này là ngày giỗ của chúng ta. Giặc Pháp muốn chiếm Thủ đô Hà Nội, nhưng chúng ta còn, Thủ đô Hà Nội sẽ không bao giờ mất. Xin thề! Xin thề! Xin thề!”.Những ngày tháng quyết tử ấy, Vũ Lăng cùng đội quân Quyết tử chiến đấu vô cùng dũng cảm. Sau đó, nhận mệnh lệnh từ cấp trên, ông cùng Ban chỉ huy Tiểu đoàn, Trung đoàn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ khi dẫn hơn 2.500 đồng bào và chiến sĩ ra khỏi Thủ đô Hà Nội an toàn giữa vòng vây giặc Pháp qua ngả đường gầm cầu Long Biên lên chiến khu tiếp tục kháng chiến. Người chiến sĩ Quyết tử Vũ Lăng đã nêu một tấm gương sáng trong những tháng ngày cùng đồng đội chiến đấu bảo vệ Thủ đô. Lên chiến khu, Vũ Lăng được cử làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 54 - Trung đoàn Thủ đô. Ông đã chỉ huy Tiểu đoàn tham gia các trận đánh Sông Lô, Đại Bục. Trận hạ đồn Đại Bục năm 1949 là một trong những chiến công lớn của Trung đoàn Thủ đô trong dịp sinh nhật Bác Hồ kính yêu. Năm 1953, Vũ Lăng được cử làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 98 - Đại đoàn 316 trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, Trung đoàn 98 do Vũ Lăng chỉ huy đánh chiếm đồi C1 và C2. Trận ác chiến trên đồi C1 diễn ra trong suốt 31 ngày đêm mới giành được chiến thắng. Trong trận chiến ác liệt này, Trung đoàn trưởng Vũ Lăng đã trực tiếp cầm tiểu liên lao lên cứ điểm cùng với các chiến sĩ.
Thượng tướng Vũ Lăng (1921 - 1988) - Ảnh: Tư liệu gia đìnhMột điều đặc biệt, Toàn quốc kháng chiến bùng nổ tháng 12 năm 1946, Vũ Lăng khi đó vừa từ mặt trận Nha Trang ra Bắc được phân công làm Ủy viên tác chiến của Trung đoàn Thủ đô tham gia chiến đấu bảo vệ Bắc Bộ Phủ. Các chiến sĩ Quyết tử quân của Trung đoàn Thủ đô đã chiến đấu anh dũng suốt hai tháng trời trong vòng vây của địch. Ngày 14 tháng 1 năm 1947, tại rạp Chuông Vàng - Hà Nội, trong buổi Lễ Tuyên thệ của Trung đoàn Thủ đô, Vũ Lăng với cương vị tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 103 cùng hai chiến sĩ Trung đoàn Thủ đô được cử lên nhận thanh kiếm quyết tử và đọc lời thề: “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” trong đó có câu: “Hôm nay, chúng ta làm lễ khai sinh đội quân Quyết tử. Chúng ta thề sống chết bảo vệ Thủ đô. Con cháu chúng ta sẽ lấy ngày này là ngày giỗ của chúng ta. Giặc Pháp muốn chiếm Thủ đô Hà Nội, nhưng chúng ta còn, Thủ đô Hà Nội sẽ không bao giờ mất. Xin thề! Xin thề! Xin thề!”.Những ngày tháng quyết tử ấy, Vũ Lăng cùng đội quân Quyết tử chiến đấu vô cùng dũng cảm. Sau đó, nhận mệnh lệnh từ cấp trên, ông cùng Ban chỉ huy Tiểu đoàn, Trung đoàn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ khi dẫn hơn 2.500 đồng bào và chiến sĩ ra khỏi Thủ đô Hà Nội an toàn giữa vòng vây giặc Pháp qua ngả đường gầm cầu Long Biên lên chiến khu tiếp tục kháng chiến. Người chiến sĩ Quyết tử Vũ Lăng đã nêu một tấm gương sáng trong những tháng ngày cùng đồng đội chiến đấu bảo vệ Thủ đô. Lên chiến khu, Vũ Lăng được cử làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 54 - Trung đoàn Thủ đô. Ông đã chỉ huy Tiểu đoàn tham gia các trận đánh Sông Lô, Đại Bục. Trận hạ đồn Đại Bục năm 1949 là một trong những chiến công lớn của Trung đoàn Thủ đô trong dịp sinh nhật Bác Hồ kính yêu. Năm 1953, Vũ Lăng được cử làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 98 - Đại đoàn 316 trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, Trung đoàn 98 do Vũ Lăng chỉ huy đánh chiếm đồi C1 và C2. Trận ác chiến trên đồi C1 diễn ra trong suốt 31 ngày đêm mới giành được chiến thắng. Trong trận chiến ác liệt này, Trung đoàn trưởng Vũ Lăng đã trực tiếp cầm tiểu liên lao lên cứ điểm cùng với các chiến sĩ.


