Thượng tướng Vũ Lăng - Vị tướng giỏi trận mạc, tài nghiên cứu
Tác giả: Vũ Nguyễn Hồng Ngọc Lớp: K13G. GDTH Trường Đại học Hải Dương

Thượng tướng Vũ Lăng (1921 - 1988) là một vị tướng trận mạc tài ba, một nhà tham mưu chiến lược sắc sảo và là nhà nghiên cứu lý luận khoa học quân sự kiệt xuất của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Ngay sau Cách mạng tháng Tám, ông là một trong những chiến sĩ Nam tiến đầu tiên chiến đấu tại mặt trận Nha Trang - Ninh Hòa. Khi Toàn quốc kháng chiến bùng nổ cuối năm 1946, ông trở thành quyết tử quân của Trung đoàn Thủ đô, tham gia bảo vệ Bắc Bộ Phủ và trực tiếp chỉ huy các trận đánh vang dội tại nhà Xô-va, Trường Ke. Tại rạp Tố Như ngày 14/1/1947, ông vinh dự đại diện cho lực lượng tình nguyện tuyên thệ "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh", đồng thời hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đưa 3.000 đồng bào bí mật vượt qua chân cầu Long Biên ra vùng tự do.
Trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, trên cương vị Trung đoàn trưởng Trung đoàn 98 (Đại đoàn 316), ông trực tiếp chỉ huy đơn vị tấn công đồi C1, giáp lá lá cà đè bẹp sức kháng cự của địch, góp phần làm nên chiến thắng "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu". Hòa bình lập lại, sau khi tốt nghiệp Học viện Cao cấp Bộ Tổng tham mưu Vô-rô-xi-lốp (Liên Xô) năm 1959, ông trở về nước giữ chức Cục phó Cục Nghiên cứu Khoa học Quân sự.
Bước vào kháng chiến chống Mỹ, ông kinh qua nhiều vị trí cốt cán: Phó Tư lệnh Quân khu 4 (1965-1967), Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu (1967), cống hiến nhiều trí tuệ trong việc xây dựng các phương án tác chiến chiến lược. Đến năm 1974, ông được cử làm Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên, cùng tập thể chỉ huy xây dựng kế hoạch và trực tiếp chỉ huy trận then chốt Buôn Ma Thuột năm 1975. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, với tư cách Tư lệnh Quân đoàn 3, ông chỉ huy mũi đột kích Tây Bắc thọc sâu đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ Tổng tham mưu ngụy, góp phần giải phóng hoàn toàn miền Nam.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Sau ngày thống nhất, năm 1977, ông đảm nhiệm chức vụ Viện trưởng Học viện Lục quân. Tại đây, ông cống hiến hết mình cho công tác huấn luyện, chỉ đạo biên soạn hệ thống giáo trình cho 8 chuyên ngành binh chủng và chủ trì nhiều đề tài khoa học quân sự cấp Nhà nước, cấp Bộ Quốc phòng.
Với 43 năm cống hiến trọn vẹn cho sự nghiệp cách mạng, ông được Nhà nước phong quân hàm Thượng tướng (1986), phong tặng học hàm Giáo sư khoa học quân sự đợt đầu tiên cùng nhiều huân chương cao quý. Hình ảnh vị tướng mang bộ râu quai nón hiên ngang cũng chính là nguyên mẫu của nhân vật Văn Việt trong tiểu thuyết "Sống mãi với Thủ đô" của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng.



