Tiếng Đàn Gạc Trong Căn Hầm
Tiếng Đàn Gạc Trong Căn Hầm A Lưới
Mùa hè năm 1968, thung lũng A Lưới (Thừa Thiên Huế) trở thành một trong những điểm nóng tàn khốc nhất trên tuyến đường Trường Sơn. Mặt đất chao đảo ngày đêm bởi bom rải thảm từ B-52, khói chất độc hóa học làm xơ xác những dải rừng bạt ngàn, biến những ngọn đồi xanh tươi thành những đống đất đá xám xịt, trọc lóc.
Khuya, hai mươi tuổi, là nam chiến sĩ liên lạc thuộc Đại đội 2, Trung đoàn 6. Hành trang quý giá nhất mà Khuya mang theo từ quê nhà vùng cao Tuyên Quang vào chiến trường không phải là tấm áo ấm hay vật dụng cá nhân, mà là chiếc đàn Ta-lư nhỏ tự gọt bằng gỗ dâu rừng – món quà người cha gác bến vượt sông Lô trao cho anh trước ngày lên đường.
Dưới căn hầm chữ A chật hẹp ngoằn ngoèo khoét sâu vào lòng núi, mỗi khi tiếng bom tạm lắng, Khuya lại cẩn thận lấy chiếc đàn nhỏ ra khỏi túi bạt. Những ngón tay chai sạn vì đào hầm và vác đạn lướt nhẹ trên dây thép nhỏ, cất lên những âm điệu mỏng manh nhưng kiên cường giữa lòng đất ẩm ướt. Tiếng đàn ấm áp như dòng suối nhỏ, vỗ về giấc ngủ chập chờn và làm dịu đi những cơn sốt rét rừng hành hạ đồng đội.
Trưa ngày 15 tháng 6, một đợt O-2 thả pháo sáng dẫn đường cho hai chiếc cường kích lao xuống trút đạn pháo tọa độ ngay sát mép hầm chỉ huy. Một quả bom phá rơi dội thẳng vào cửa ngách phụ làm sạt lở một khối đất đá lớn, vùi lấp đường ra và hất văng Khuya vào vách đá.
Sức ép nổ lớn làm mảng vách hầm sập xuống, một mảnh đá nhọn chém vào đùi trái của Khuya, máu chảy đầm đìa ngấm đen vạt áo lính. Trong bóng tối đặc quánh ngập mùi khói độc và bụi đất sặc sụa, tiếng ho rút ruột của đồng đội vang lên yếu ớt.
– Ngách hầm bị lấp rồi! Khói độc đang tràn vào! – Tiếng trung đội trưởng gào lên giữa cơn ho xé ruột.
Nén cơn đau xé thịt ở chân, Khuya cắn răng không thốt ra một tiếng rên. Anh quấn chặt vết thương bằng dải băng dã chiến, rồi bò nhoài trong bóng tối tìm kiếm lối thoát khẩn cấp. Tay anh đụng phải chiếc đàn Ta-lư bị đất đá vùi lấp một góc nhưng vẫn nguyên vẹn.
Khuya vơ lấy chiếc cút xẻng nhỏ dắt bên hông, kiên cường bới từng vốc đất nóng hổi ở cửa ngách thông gió trên cao. Mảnh đá cứa rách các đầu ngón tay, máu quyện lẫn bụi than đen kịt, nhưng anh vẫn không dừng lại.
Khi một lỗ hổng nhỏ bằng bàn tay vừa được khơi thông, luồng không khí mát lành ngoài trời tràn vào căn hầm ngột ngạt. Để giúp đồng đội bên ngoài xác định đúng vị trí hầm bị sập giữa khung cảnh ngổn ngang sau đợt bom, Khuya ghì chặt chiếc đàn Ta-lư vào ngực, ghé sát cửa thông gió và gảy mạnh những giai điệu dồn dập, đĩnh đạc.
Tiếng đàn trong trẻo, kiên định vang lên từ lòng đất tăm tối: "Tút... tút... tùng... tùng..."
Nghe thấy tiếng đàn quen thuộc vang lên giữa đống đổ nát, lực lượng cứu hộ bên ngoài lập tức đào gấp. Chỉ mươi phút sau, mảng đất sạt lở được bới tung, tám chiến sĩ trong căn hầm chữ A được đưa ra ngoài an toàn trước khi đợt bom tiếp theo dội xuống.
Đồng đội cõng Khuya lên võng dã chiến để chuyển về trạm y tế tuyến sau. Trên tay anh, chiếc đàn Ta-lư bằng gỗ dâu rừng vẫn được ôm chặt, hằn rõ vệt máu khô của người lính trẻ.
Nhiều năm sau chiến tranh, chiếc đàn Ta-lư sứt góc năm ấy được trân trọng trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự. Giữa muôn vàn kỷ vật của một thời hoa lửa, chiếc đàn nhỏ vẫn lặng lẽ kể lại câu chuyện về niềm tin, sự quả cảm và sức sống mãnh liệt của con người Việt Nam giữa chảo lửa Trường Sơn.



