Tiếng Hò Qua Sông
Trong những năm chiến tranh ở miền Nam, một người phụ nữ miền Tây đã dùng câu hò quen thuộc trên sông nước làm tín hiệu bí mật, giúp cán bộ và bà con tránh nhiều cuộc truy quét nguy hiểm.
Những năm đầu thập niên 1970, vùng Đồng Tháp Mười mênh mông sông rạch, lau sậy và ruộng nước là nơi diễn ra nhiều hoạt động bí mật. Ban ngày, xuồng ghe qua lại chở lúa, chở cá như bao miền quê yên ả. Nhưng đêm xuống, nhiều con rạch trở nên căng thẳng bởi những cuộc tuần tra bất ngờ.
Bà Trương Thị Út sống bằng nghề chèo ghe bán trái cây. Từ nhỏ bà đã nổi tiếng có giọng hò ngọt và vang xa cả khúc sông.
Thấy cán bộ nhiều lần phải ẩn nấp vất vả, bà nghĩ ra cách dùng tiếng hò làm tín hiệu. Vì ở miền Tây, hò trên sông là chuyện tự nhiên, không ai nghi ngờ.
Bà quy ước:
Hò câu ngắn, vui tươi: đường yên.
Hò kéo dài, ngân cao cuối câu: có người lạ xuất hiện.
Hò đứt quãng hai lần: phải tránh ngay.
Một buổi chiều, bà chèo ghe bán chuối ngang bến thì thấy xuồng máy lạ đang tiến vào rạch nhỏ. Biết có nguy hiểm, bà chống sào đứng thẳng người rồi cất giọng:
“Ơ... ai qua sông nhớ chờ con nước... ơ hò...”
Tiếng hò vang dài, ngân mạnh cuối câu.
Trong các bụi tràm ven rạch, những người đang chờ di chuyển lập tức hiểu ý, nhanh chóng tản vào lối an toàn.
Toán tuần tra nghe tiếng hò chỉ tưởng người phụ nữ bán hàng đang vui miệng ca hát. Chúng đi qua mà không phát hiện điều gì.
Một lần khác, bà đang sốt nhưng vẫn chèo ghe ra sông vì đã hẹn làm tín hiệu cho một chuyến chuyển tài liệu quan trọng. Người nhà cản lại, bà nói:
“Mình mệt một bữa, người ta có thể mất cả việc lớn.”
Ngày miền Nam giải phóng, nhiều cán bộ tìm đến nhà cảm ơn người phụ nữ chèo ghe năm xưa. Có người xúc động nói:
“Nhờ tiếng hò của má Út mà tụi con qua được bao phen hiểm nguy.”
Bà chỉ cười hiền:
“Tui có biết đánh giặc đâu, chỉ biết hò thôi.”
Đến nay, mỗi lần nghe câu hò vọng cổ trên sông, con cháu lại nhớ chuyện cũ. Tiếng hò qua sông năm ấy đã trở thành biểu tượng của sự thông minh, gan dạ và nghĩa tình của người dân miền Nam trong những năm tháng thời hoa lửa.



