"Tiếng sấm Đường 5" của chị dâu, em chồng
Với cụ bà Nguyễn Thị Thu và Lương Thị Dé ở thôn Yển Vũ, xã Đức Chính, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, những trận đánh giật mìn phá đường tàu tạo thêm “tiếng sấm Đường 5” cách nay 70 năm của Đội du kích Đường 5 ở xã Đức Chính làm cho quân Pháp nhiều phen thất kinh bát đảo, vẫn tươi rói như mới hôm qua.

Chị dâu là cụ Nguyễn Thị Thu năm nay bước sang tuổi 93, em chồng là cụ Lương Thị Dé 87 tuổi. Hai chị em, hai người đồng chí và cũng là hai người bạn tri kỷ. Chị mất mẹ lúc 13 tuổi, em mất cha lúc 2 tuổi, hai người phải đi ở, làm thuê cuốc mướn kiếm sống qua ngày. Ở tuổi cửu thập, cụ Thu vẫn còn minh mẫn, nhớ như in những ký ức về một thời son trẻ giật mìn phá đường tàu. Từ thập niên đầu của thế kỷ 20, thực dân Pháp xây dựng Đường số 5 gồm tuyến đường sắt-bộ song hành dài hơn 100km, nối Hải Phòng với Hà Nội. Tuyến đường này có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng ở Bắc Bộ, trở thành chiến trường nóng bỏng, thường xuyên giành đi giật lại giữa ta và địch. Được giác ngộ cách mạng, hai chị em vào đội du kích, nhiều lần tổ chức giật mìn phá đường tàu Pháp.
Chủ trương “bám đất, bám dân, bám đường, bám địch” và cài cán bộ đảng viên ở cùng với nhân dân đã được các cấp ủy Đảng tỉnh Hải Dương khi ấy thực hiện linh hoạt. Cụ Thu tham gia cách mạng từ năm 18 tuổi, tham gia Đội du kích Đường 5, đầu năm 1949 được kết nạp Đảng. Cụ nhớ lại: “Để bảo đảm trận đánh thắng lợi, chỉ huy phân công một tổ làm công tác cảnh giới, tổ vặn ốc lấy tà vẹt lật đường ray, tổ khác giật mìn với tinh thần thi đua phá được càng nhiều càng tốt. Trước khi đi, anh chị em thường tập trung ở nhà ông Sơn (thôn Tự Trung). Địa điểm giật mìn ở khu vực Cao Xá, Đồng Niên, Chi Các... Những quả mìn to như cái bào gỗ nặng khoảng 1kg được chúng tôi bí mật buộc chặt vào thanh ray đường tàu ở khu vực Cao Xá. Để giật mìn, hai chị em buộc dây thừng bện bằng đay dài khoảng 50m vào dây quả mìn, khi người chỉ huy hô “Một... hai... ba” thì giật mạnh dây rồi nằm rạp dưới luống khoai lang. Cùng lúc, các chỗ khác cũng giật. Mìn nổ bùng bục khắp nơi như một chiến trường”. Các trận đánh đều thắng lợi, không ai hy sinh, chỉ một số anh chị em bị thương do đá văng vào người. Sau khi mìn nổ là ngóc đầu dậy chạy thục mạng, vượt qua các luống khoai, ngã sấp mặt nhưng lại vùng dậy chạy tiếp. Những quả mìn không nổ hoặc đứt dây, các bà phải bò vào tháo ra mang về nộp lại cho cấp trên. Cụ Dé cũng tham gia du kích, kể lại: “Một lần phá đường tàu ở Đồng Niên, Chi Các, sức công phá của quả mìn làm đường ray bung tà vẹt một đoạn dài. Nhiều người vác thanh tà vẹt bằng sắt về làm cầu ao rửa chân”. Những trận đánh đã làm cho tuyến đường sắt vận chuyển vũ khí, đạn dược của quân Pháp từ Hải Phòng về Hà Nội bị gián đoạn, tê liệt nhiều ngày. Ngay tại khu vực Đồng Niên, một đoàn tàu của Pháp đã bị đổ khi chạy qua đây.
Cụ Thu kể: “Vào tháng 4-1949, tôi đi tản cư ở Yên Thế về làng đúng lúc giặc Pháp đi càn, chúng bắt tôi và nhiều người khác tống lên xe chở đi. Tổng cộng có 11 người bị bắt. Chúng treo chân từng người ngược lên trời để tra hỏi. Tôi là người cuối cùng bị tra tấn. Chúng hỏi con này làm gì? Đứa chỉ điểm nói, con mẹ này làm địch vận. Thế là chúng lôi tôi ra tra hỏi, có biết thằng Thuyết, thằng Cang (hai cán bộ chủ chốt của ta) ở đâu không? Tôi trả lời không biết, không gặp. Chúng liền kẹp dây điện vào tai và dọa, không khai sẽ cho điện giật. Tôi im lặng, răng cắn vào môi, máu chảy túa ra. Chúng tra tấn, hết đập đầu tôi vào tường lại đập xuống sàn nhà, máu chảy lênh láng. Thấy tôi nằm bất động, bọn chúng còn hỏi nhau con mẹ này đã chết chưa? Biết tôi còn sống, chúng lại tra điện liên tục. Khi không khai thác được gì, chúng lại đưa tôi về buồng giam”...
Sau này, bà Nguyễn Thị Thu làm Trưởng ban Giao thông của xã Đức Chính, còn bà Lương Thị Dé 20 năm liên tục làm Trưởng công an và Chủ tịch UBND xã Đức Chính ở thập niên 60, 70 của thế kỷ trước. Giờ đây, hai chị em vẫn luôn giữ vững phẩm chất của người du kích năm xưa, sống vui, sống khỏe cùng các con, cháu tại quê nhà.



