Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Tiếng súng 40 năm

Sau Tết Bính Dần, vài chục anh chị em vốn là cán bộ chiến sĩ trung đoàn Thăng Long, tổ chức họp mặt, cùng ôn lại quãng ngày chiến đấu bảo vệ Thủ Đô với hy vọng sẽ giúp dựng phần đầu cuốn sử của Trung đoàn. Đã hẹn, đã chờ đợi ngày hẹn, thế rồi vẫn bàng hoàng xúc động lặng nhìn nhau không nói được với nhau những lời chào hỏi tình cảm nhất như từng người đã dự định. Nhiều giọt nước mắt lăn trên má không chỉ những người từng được gọi là "các cô em gái của Trung đoàn". Bốn mươi năm không phải ngắn

Lai Châu03/07/2026nxb Hà Nội (xã nậm mạ)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Cuối năm 1945, như mọi chiến sỹ giải phóng quân đắm mình trong khí thế bừng bừng chống bọn thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta, tôi lại xin Bộ chỉ huy khu XI, còn gọi là khu đặc biệt Hà Nội, được lên đường Nam tiến. Nhưng rồi tôi nhận được quyết định: về khu bộ phụ trách phòng chính trị.
Bâng khuâng, tôi tạm biệt các đồng chí tiểu đoàn 101 – sau này là tiểu đoàn 54 thuộc trung đoàn Thủ đô – Tiểu đoàn 101 là một bộ phận của "công nhân xung phong đoàn" thành Hà Nội, thêm đại đội Mộng–Hùng quân giải phóng thuộc chi đội Quang Trung từ chiến khu về. Từ những buổi đầu tiên "Hà Nội đỏ sao cờ" tôi đã là người lính của đơn vị đang giữ nhiệm vụ bảo vệ khu vực Bắc Bộ phủ nơi làm việc của Cụ Hồ và Chính Phủ dân chủ cộng hòa của nước việt Nam. Từ đơn vị này, tôi được anh em bầu dần lên từng cấp: tiểu đội, trung đội, đại đội, cuối cùng được cấp trên cử làm chính trị viên tiểu đoàn ngay tại chính đơn vị đã nhận tôi vào đội ngũ.


Khi tôi về phòng chính trị, khu bộ khu XI đóng trong trại vệ quốc đoàn Trung ương giữa phố Hàng Bài trước cửa rạp Ma-jes-tic một rạp chiếu bóng sang trọng bậc nhất Hà Nội. Ở giữa lòng Hà Nội, hàng ngày Bộ chỉ huy khu, ngoài các nguồn tin được thông báo, còn tận mắt chứng kiến không ít sự kiện căng thẳng.


Choáng váng sửng sốt trước tin cách mạng tháng 8 đã nổ ra thành công nhanh chóng ở Hà Nội, Xanh-tơ-ny tên cáo già thực dân Pháp chỉ huy "phái bộ 5" đại diện cơ quan tham mưu quân đội Pháp ở bên cạnh Bộ tham mưu Đồng Minh ở Côn minh (Vân Nam Trung Quốc), cầu xin được "bám càng" máy bay Mỹ liều lĩnh đến Hà Nội chiều ngày 22-8-1945.


Bắc bộ đang lụt to, đêm 24-8-1945 đê Đông Lao ở Hà Đông vỡ! Bức điện đầu tiên, y báo cáo về cấp trên của y đóng ở Săng-đéc-ma-go thuộc địa cũ của Pháp ở Ấn Độ: "Tôi thấy Hà Nội chỉ treo toàn cờ Việt Minh" Y không biết nạn đói khủng khiếp vừa làm chết 2 triệu người ở miền Bắc, nạn đói mới càng đe dọa chúng ta? Y không biết chính quyền ta còn non trẻ gần như trắng tay với bao nhiêu khó khăn chồng chất? nhưng cái làm cho y sợ nhất, lo lắng nhất: "lá cờ đỏ sao vàng".


Trong cuộc đời, có những giờ phút làm cho con người ta vụt lớn hẳn lên.

Hà Nội ngày Tổng khởi nghĩa cờ đỏ đỏ rực phố phường Hà Nội đón Cụ Hồ và đoàn quân giải phóng ở chiến khu về. Hà Nội đêm trung thu đầu tiên ở Hồ Gươm, cùng tiếng trống ếch khắp nơi. Hà Nội ngày Tuyên ngôn Độc lập ở Ba Đình. Hà Nội ngày tổng tuyển cử đầu tiên trong lịch sử đất nước. Hà Nội ngày phản đối quân đội Pháp xâm lược Sài Gòn với một cuộc biểu tình khổng lồ hơn 1.000.000 người! Hà Nội tiễn đưa con em mình Nam tiến v.v… Hà Nội – Thủ Đô đã vụt lớn lên gấp bội cả tầm cao và sức mạnh.


Trong lịch sử Việt Nam, chưa bao giờ cùng một lúc có nhiều kẻ thù như năm 1945 – 1946.

23-9-1945 quân đội Anh giúp quân đội Pháp đánh chiếm lại Sài Gòn. Hà Ứng Khâm, Tổng tham mưu trưởng quân đội Tàu Tưởng, chớp thời cơ này bay sang Hà Nội thực hiện kế hoạch lật đổ ta, đưa bọn "Việt Quốc" "Việt Cách" lên nắm chính quyền. Nhưng trước sức mạnh đoàn kết, ý chí quyết không chịu làm nô lệ một lần nữa, Khâm ta đành chịu giao thiệp với chính quyền ta, để rồi tiếp tục thực hiện kế hoạch đó bằng thủ đoạn khác.


Tại các cuộc họp của ban cán sự Đảng quân khu Hà Nội – tôi là một ủy viên – chúng tôi được đồng chí Trần Độ bí thư Ban cán sự, chính trị ủy viên khu phổ biến các nghị quyết, chỉ thị của Đảng. Tôi nhớ nhất, sau khi phân tích âm mưu từng kẻ thù Anh, Pháp, Mỹ, Tưởng, mâu thuẫn giữa chúng, những thắng lợi và khó khăn của ta, Đảng ta luôn luôn nhấn mạnh Pháp là kẻ thù chính, Pháp sẽ tìm mọi cách chiếm lại Đông Dương, điều mà Đảng ta đã nói trong nghị quyết ngày 13-8-1945 quyết định tổng khởi nghĩa toàn quốc: phải biết lợi dụng mâu thuẫn của kẻ thù mà tồn tại và phát triển; cách duy nhất để chống lại được âm mưu của kẻ thù là dựa vào sức mạnh đoàn kết của toàn dân phải gấp rút xây dựng quân đội và lực lượng vũ trang… Để động viên quân khu, tôi nhớ có lần anh Độ đã mời anh Lê Đức Thọ bí thư xứ ủy Bắc Kỳ xuống dự họp Ban cán sự Đảng. Trong 2 lần đó sau khi phân tích nghị quyết của Đảng, anh Lê Đức Thọ đã nói: "Nền độc lập mới giành được có thể bị thủ tiêu, nguy cơ nhân dân ta phải sống lại cuộc đời nô lệ là một nguy cơ có thật. Thực tế chứng tỏ giữ chính quyền còn khó hơn giành chính quyền. Cần nói rõ điều đó với anh em bộ đội và nhân dân…".

Logged

Hỏi thế gian, tình là gì mà đôi lứa thề nguyền sống chết?

kevin

Thành viên
*
Bài viết: 69


Tiếng súng 40 năm« Trả lời #2 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2023, 09:14:32 am »
Chiều chiều, nhiều người dân Hà Nội quây chung quanh các bản tin cuối cùng được dán trước các báo "Cờ Giải phóng", "Cứu Quốc", "Dân Thanh", "Đông Pháp"… Tại miền Nam lúc này, quân Pháp đã vào Nha Trang, tiến lên Đà Lạt. Từ rừng rậm biên giới Việt Trung, Việt Lào, bọn tàn binh Pháp thua trận ngày 9-3-1945 đã bò ra chiếm thị xã Lai Châu rồi về Sơn La. Bọn "Việt Quốc", "Việt Cách" "bám chân" 20 vạn quân Tàu Tưởng, chiếm một số thị xã thị trấn Lào Kay, Yên Bái, Vĩnh Yên, Móng Cái.
Bọn Tưởng đã ép chúng ta nhượng cho "Việt Quốc" "Việt Cách" 72 ghế trong quốc hội không qua bầu bán gì.


Bọn "Việt Quốc", "Việt Cách" cướp của, giết người, tống tiền, bắt cóc… Nhân dân Hà Nội rất căm tức, khinh bỉ chúng.

Bọn lãnh tụ của chúng đi đâu, đều có 2 tên vệ sỹ nằm dài ở đầu xe, từ 1 đến 2 tên nữa nằm ở cuối xe; tay giơ súng "Pạc hoọc". Bọn "Tàu trắng" vơ vét bất kể cái gì có thể vơ vét được, cướp giật ở các chợ búa, phố phường.


Chúng chết la liệt ở Hà Nội, có hôm tôi đi qua ngã tư Giám, gò Đống Đa, tôi thấy chúng để xác của đồng bọn trương phình ra, ruồi nhặng kinh khủng. chúng rắc bệnh sốt định kỳ, sốt vàng da, một số người Hà Nội cũng bị lây và chết sau khi đã qua được nạn đó khủng khiếp.


Để Pháp vào được Đông Dương, Mỹ ép Pháp và Tưởng ký hiệp ước Pháp-Hoa ngày 28-2-1946. Bản hiệp ước này là sự ngã giá của 2 kẻ trục lợi sau một cuộc mặc cả gay go ở Trùng Khánh, nhưng hoàn toàn không bất ngờ với Đảng ta.


Ngay từ khi Nhật đầu hàng, Xanh-tơ-ny (Sainteny) đã cuống quýt xoay xở một chiếc máy bay định nhảy dù xuống ngay trước phủ toàn quyền Đông Dương cũ, nhanh chóng xông vào dinh toàn quyền cũ cắm lá cờ tam-tài lên đó để chứng tỏ với nhân dân Việt Nam và khối Đồng Minh rằng Đông Dương vẫn là của Pháp!1 (Theo sách: "Lịch sử của một nền hòa bình hụt" của Xanh-tơ-ny (Histoire d'une paix manquée)).


Không có máy bay riêng, Xanh-tơ-ny đến Hà Nội chậm hơn sự mong muốn của hắn nhiều (22-8-1945)

Chậm chân nhưng hắn vẫn ráo riết hoạt động. Hắn cho cắm trước mũi xe ô-tô một lá cờ Pháp phóng trên phố phường Hà Nội. Lực lượng vũ trang và công an ta được lệnh bắt giữ cả Xanh-tơ-ny và chiếc xe. Bọn Mỹ và tàu Tưởng dù sao cũng không để cho ta giam giữ đồng minh của chúng một tội phạm. Hồi đó ta cũng không thể trục xuất tên khách không mời mà đến này, nhưng về phía hắn, hắn đành theo luật lệ của chính quyền ta. Cờ Pháp chỉ được kéo lên ở Hà Nội sau ngày 6/3 nhưng cũng lẻ loi so với cả rừng cờ đỏ Hà Nội.


Ký xong hiệp ước Pháp – Hoa, sự tình sẽ ra sao nếu "Việt Minh" tổ chức kháng chiến, khi quân đội Pháp đặt chân lên Hải Phòng, nói gì kéo đến Hà Nội? Nam Bộ mới cướp chính quyền có mấy ngày chưa kịp làm được gì mấy, Pháp đã nhờ Anh và Nhật giúp đánh ngay, thế mà Nam Bộ và Nam Trung Bộ đã giáng trả cho Pháp khá đau. Trước một thực tế quá hiển nhiên đó, thực dân Pháp đành tính toán: để chiếm lại Việt Nam cần có 30 vạn quân viễn chinh. Lúc đó, nếu nhờ một phép lạ mà có được số quân ấy, lấy gì mà chở số quân đó sang Việt Nam, chưa kể sẽ vận chuyển bổ xung quân số, và hậu cần cho chiến tranh chắc chắn là dài ở nơi xa nước Pháp: Nước Pháp tuy về danh nghĩa được đứng trong phe Đồng Minh, nhưng đã thua phát xít Đức, hạm đội Pháp đã bị phát xít Đức tiêu diệt gần hết, ảnh hưởng Đảng cộng sản Pháp lại rất cao; ở Đông Dương Pháp lại 2 lần đầu hàng Nhật. Nước Pháp đã suy yếu nhiều, cần có một bước đi thận trọng, phải chấp nhận sự vòng vèo.


Ký hiệp ước 6-3 với ta, Pháp toan tính cốt đưa được quân đội Pháp ra miền bắc yên ổn, trước hết là Hà Nội, Hải Phòng, chờ viện binh rồi sẽ lấn dần, bao vây bóp nghẹt rồi kết thúc ở Hà Nội: đảo chính lật đổ chính phủ Hồ Chí Minh.


Pháp buộc phải công nhận "Việt Nam là một quốc gia tự do, có quân đội, tài chính riêng, nằm trong liên bang Đông Dương và khối liên hiệp Pháp".

Với bản hiệp ước này, ta tận dụng được thời gian, tăng cường lực lượng để làm cho mình mạnh lên. Ai nấy đều tin chắc thời gian lại ủng hộ chúng ta như chỉ thị "Hòa để tiến" của Đảng đã chỉ rõ.

Xuống công tác tại các đơn vị, tôi đem chuyện Hồ Chủ tịch khuyên nhủ, bảo ban, chăm sóc bộ đội ra sao kể lại. Tôi tin với những mẩu chuyện ấy, dù người kể không có duyên, cũng đủ sức hấp dẫn người nghe; hơn thế nữa, qua những mẩu chuyện ấy, sẽ để cảm nhận tình hình địch, ta, xu thế của tình hình, dễ dàng cảm nhận họ sẽ phải làm gì?


… Một trung đội đóng ngay tầng dưới nơi Bác làm việc, vừa đi tập về. Bác từ trên gác xuống, tôi vừa kịp hô bộ đội đứng nghiêm chào bác, Bác đã tươi cười ra lệnh cho bộ đội nghỉ, rồi quay lại hỏi đồng chí Quang Trung1 (Hồi đó đồng chí Quang Trung chỉ huy 1 chi đội ở khu giải phóng về, đặc trách bảo vệ Bắc Bộ phủ và Bác.):

- Sao không huấn luyện cho anh em chiến đấu mà chỉ có đi đều, quay trái, quay phải? Phải bày cho anh em biết đánh du kích, biết đánh trong thành phố.


Một lần khác, cũng mới đi tập về, quần áo anh em lấm lem vì lăn lê bò toài, tập vượt tường, Bác lại xuống thăm. Bác hỏi: "Các chú có mệt không?" rồi Bác đi thẳng đến 1 khẩu súng "mút-cơ-tông" của 1 đồng chí vừa dựng vào giá súng. Bác ngoáy vào nòng súng, đưa cho chúng tôi xem, ngón tay út của Bác đầy mỡ pha lẫn bụi cát.

- Thế này là không biết giữ gìn vũ khí. Muốn chiến đấu tốt, các chú phải yêu vũ khí như bản thân mình.

Có lần, vào 1 buổi chiều, Bác lại xuống thăm đơn vị. Bác bảo chúng tôi dẫn Bác đi xem nhà bếp, nhà xí. Nhà bếp nhà xí đều không sạch! Bác nhẹ nhàng nhắc chúng tôi, rồi Bác đi vào trung đội do đồng chí Đặng Tý đại đội phó phụ trách. Bác thấy trung đội gọn gàng ngăn nắp, nhìn lên tường thấy ghi những điều kỷ luật của đội viên du kích mà tôi học được trong tù, Bác hài lòng nói:

- Bộ đội cần tổ chức chặt chẽ và kỷ luật nghiêm. Có tổ chức chúng ta sẽ không sợ bất cứ kẻ thù nào.
Chúng tôi vô cùng súng ướng vì thấy Bác vui, chúng tôi càng thương Bác vì chúng tôi biết mấy hôm đó Bác đang mệt, càng ân hận vô cùng vì đã không kiểm tra để cho nhà bếp và nhà xí không sạch!
Mỗi lần được gặp Bác, chúng tôi luôn thấy ấm cúng tình người, tình đồng chí, tình cha con.
Vào một buổi trưa trời nói, vài anh em trong ban chỉ huy đại đội chúng tôi mở quạt chạy hết tốc độ rồi ngủ thiếp đi. Bỗng nhiên, tôi thấy có ai vỗ vào vai, nhỏ nhẹ:

- Để quạt trần chạy to quá dễ bị cảm. Phải giữ gìn sức khỏe mới chiến đấu được.

Chúng tôi đều thức dậy xúc động nhìn Bác, Bác đã hãm quạt trần chạy chậm lại, rồi Bác hỏi: "Lâu nay, các chú ăn uống ra sao?" Không biết cậu nào nhanh nhẩu:

- Dạ thưa Cụ, lâu lắm mới có một bữa cá, cá lại hơi lắm xương!

- Thế các chú có biết cá gì không có xương không nào?

Anh em chúng tôi đang ngơ ngác suy nghĩ, Bác trả lời ngay:

- "Cá gỗ"

Tất cả cùng bật lên cười vui với Bác.

Những lời bảo ban chí tình, những cử chỉ chăm sóc của Bác, khiến chúng tôi thấy được tình thế trước mắt rất dễ biến động và phải chuẩn bị thật đầy đủ để ứng phó khi biến động xảy ra.

Logged

Hỏi thế gian, tình là gì mà đôi lứa thề nguyền sống chết?

kevin

Thành viên
*
Bài viết: 69


Tiếng súng 40 năm« Trả lời #3 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2023, 09:18:33 am »
Những lời bảo ban chí tình, những cử chỉ chăm sóc của Bác, khiến chúng tôi thấy được tình thế trước mắt rất dễ biến động và phải chuẩn bị thật đầy đủ để ứng phó khi biến động xảy ra.

Hầu hết người Hà Nội đồng tình ủng hộ việc ký hiệp ước 6-3-1946 với Pháp. Lòng tin đó không phải là một tín ngưỡng có sẵn. Ai đã tổ chức công cuộc cứu đói chống lụt khi mới giành được chính quyền? Ai lo cho dân nghèo từng bơ gạo, từng tờ giấy để vượt qua nạn đói mới đang đe dọa miền Bắc và nạn mù chữ lâu đời? Ai lo việc tổ chức kháng chiến ở miền Nam và gửi con em miền Bắc vào miền Nam cũng chiến đấu? Ai tổ chức cho dân chọn đại biểu của mình vào Quốc Hội bàn việc nước? Câu trả lời thật quá rõ ràng. Bọn "Việt Quốc" "Việt Cách" la lối om sòm "Việt Minh cộng sản mở đường cho Pháp chiếm miền Bắc". Những từ ngữ "đánh đến cùng" được mạ kền đánh bóng bằng mấy tiếng "ái quốc ái quần" không đánh lừa được ai. Người lao động Hà Nội vừa qua nạn đói, còn xanh xao vàng vọt, nhưng chẳng ai thèm nhận 5 đồng bạc Đông Dương cùng một gói cơm tiền công chúng trả cho một buổi đi biểu tình chống tổng tuyển cử, "chống Việt Minh cộng sản rước Tây ra miền Bắc"… Để cho rõ hơn về chúng, chúng ta chú ý Nguyễn Tường Tam lãnh tụ của chúng đã bí mật gặp Xanh-tơ-ny ở Côn Minh bàn về "Hợp tác Pháp – Việt" sau khi Nhật đầu hàng!1 (Theo sách: "Lịch sử của một nền hòa bình hụt" (Histoire d'une paix manquée, Sainteny)) những tên "Việt Cách" – "Việt Quốc" là những tay sai đắc lực mà sau này Mỹ, Diệm đã dùng trong các chiến dịch "tố cộng diệt cộng" đẫm máu ở Quảng Nam, Quảng Ngãi và một số nơi khác ở miền Nam.


Riêng việc 20 vạn quân Tàu hàng ngày ngốn mất hàng chục tấn gạo, phá phách chúng ta chưa biết đến bao giờ, phải cút về nước, thay vào đó chỉ có 15.000 quân Pháp được phép đóng trong thời hạn 5 năm tại Hà Nội, Hải Phòng và một vài tỉnh khác, đã cho thấy nên hay không nên ký hiệp định 6-3. Chỉ sau đó ít lâu, thắng lợi của việc ta ký kết bản hiệp định, đã khiến cho một số người trước đây ít nhiều hoài nghi đã phải thán phục. Họ nói: "Cụ Hồ thánh thật!". Họ chơi chữ theo cách nói lái: "Đúng là một đòn mác xít"2 (Mác-xít nói ngược thành "Xít-mác" - tiếng Pháp nghĩa là mồng 6 tháng 3)


Bọn "Việt Quốc", "Việt Cách" càng ra sức phá chúng ta, cho đến khi âm mưu giúp Pháp gây "màn đảo chính" đánh úp chính phủ ta nhân ngày quốc khánh Pháp 14-7-1946 bị chúng ta lật tẩy, chúng vội vàng vơ vét tiền của chạy theo quan thầy Tàu Tưởng.


Nhân đấy, chúng ta quét sạch bọn phản động, đánh giải phóng luôn những nơi mà bọn chúng chiếm đóng Chính quyền ta được củng cố vững chắc hơn, kể cả ở các vùng bị tạm chiếm ở miền Nam, không gian ta được mở rộng ra.


Vốn không là dân Hà Nội gốc nên khi trên đường xuống các đơn vị công tác, tôi thường ngắm nhìn phố phường, quan sát tình hình xã hội, để hiểu thêm yêu thêm mảnh đất ngàn năm văn vật, mảnh đất rồi đây chắc chắn, tôi sẽ cùng đồng bào của mình chiến đấu bảo vệ nó.


Bản tạm ước 14-9-1946 Hồ Chủ tịch vừa ký ở Pháp đã được Đảng giải thích là một biện pháp tranh thủ thời gian thêm nữa.

Thời gian đối với cách mạng lúc này là vàng, nếu như vàng là một vật quý nhất trên thế giới không có gì đánh đổi được. Giờ đây thời gian là lực lượng chính trị được mở rộng và củng cố; thời gian là lực lượng vũ trang rộng khắp, là nhanh chóng tổ chức các đơn vị chủ lực tập trung; ở Hà Nội đợt tuyển quân đầu năm 1946 lấy từ các đoàn thể quần chúng mà ra, bổ xung củng cố 5 tiểu đoàn và một số đơn vị trực thuộc khác.


Thời gian để củng cố chính quyền, thời gian để đào tạo gấp cán bộ, để phát triển Đảng ăn sâu bám rễ vào quần chúng, trong mọi tổ chức.

Thời gian để tăng thêm thóc gạo, để xóa thêm nạn mù chữ, tăng thêm ý thức làm chủ cho dân, thời gian để chuẩn bị mọi mặt cho công cuộc kháng chiến khi chúng ta không thể nhịn được nữa với một lực mới, một thế mới.


Đi trên hè phố Hà Nội, đôi lúc tôi chợt rùng mình nhớ lại những ngày tôi cùng một trung đội ở Bắc bộ phủ giúp anh Phan Mỹ thu nhặt xác chết đói tại gầm cầu Long Biên, bãi Phúc Xá chợ Đồng Xuân, chợ Hôm và một số nơi khác ở Hà Nội. Ở các đầu ô, ở các chợ, ở vài phố vẫn còn những hàng bán cơm nắm, bán cháo, lúc nào cũng đông người đói; tôi không nhớ rõ hồi đó đến lúc nào những cửa hàng bi thảm đó mới không còn nữa.


Nạn đói đã qua đi, nhưng trước mắt tôi Hà Nội còn không ít nghịch cảnh. Bọn lính ngoại bang da vàng, da trắng đã tạo nên trong thành phố một lớp người chỉ biết tiền, chúng lao vào các "áp phe" đấu thầu đủ mọi thứ, buôn đủ mọi thứ, trong lúc công nhân, viên chức, học sinh sinh viên, dân nghèo lăn vào cáng đáng mọi việc của cách mạng, góp từng bơ gạo, quyên từng tờ giấy để chống giặc đói, chống giặc dốt. Hầu hết thanh niên trai, gái Hà Nội hồi ấy đã là tự vệ, hoặc ở các đội cứu thương, đội tiếp tế v.v…. Hiếm hoi lắm, mới có trung đội "xoay" được một khẩu súng trường cho 10 đội viên, trong khi lính Pháp treo đầy các-bin Mỹ, thom-xơn Mỹ, côn-bát Mỹ, ngồi trên xe díp Mỹ, xe cơ giới Mỹ phóng như điên trên các đại lộ, chẹt chết người cốt để ra oai, đe dọa, khiêu khích.
Đi trên hè phố ngày nào còn bỡ ngỡ nay đã gần gũi thân thiết, tôi chợt nhớ Huế, nhớ Đà Nẵng, nơi tôi sinh ra, nơi tôi lớn lên. Hơn 2 năm trước, trời rét thâm dai tím ruột, từ trên toa tầu chở hàng, đen như một khối than khổng lồ, tôi bước xuống sân ga Hàng Cỏ. Thầy quyền với quần "soóc", áo sơ mi lính ngắn tay đi giải tù, khoác súng đế quốc trên vai, nhưng thầy vẫn lẩy bẩy rét run không khác hai người tù bị còng tay đi trước.


Tôi sinh ở Huế, nhưng ở Đà Nẵng từ bé, lấy giấy khai sinh ở Đà Nẵng, đất nhượng địa của Pháp, lại hoạt động ở Đà Nẵng, cho nên chiếu theo luật khủng bố của Pháp hồi đó; mọi hoạt động "trên đất Pháp" phải do tòa án binh Pháp xử: từ Đà Nẵng trở ra Bắc do tòa án binh Hà Nội phụ trách. Tôi ra Hà Nội là do đo3 (Hoạt động chống Pháp).


Bước vào phố, thầy quyền càng ngượng với dân Hà Nội, càng giục chúng tôi, nhưng chúng tôi vẫn cố kéo dài: mỗi bước đi về phía nhà lao là một bước mất đi ánh sáng mặt trời và tự do.

Chúng tôi đi về phía hỏa lò trong ánh mắt đồng cảm của phố phường Hà Nội.

Với người cách mạng, nhà tù là 1 trường học. Tôi đã tiếp thu câu nói khô khan ấy bằng cả cuộc sống của mình trong 2 năm tù, bằng tất cả tình cảm của tôi. Trong tù tôi đã thấy cuộc sống vốn như nó là của một xã hội thuộc địa. Tôi đã học được nhiều điều về ý nghĩa cuộc sống, về con đường đi tới một ngày mai tươi đẹp, không chỉ cho riêng ai, không chỉ cho 1 dân tộc nào! Không phải tôi chỉ được học A – B – C của chủ nghĩa cộng sản, về "cách mạng tư sản dân quyền" (nay gọi là cách mạng dân chủ mới) về đường lối, chính sách của Đảng, học công tác vận động quần chúng v.v… Tôi theo các đông chí đàn anh đi tới những bến lạ, bờ xa trên trái đất, uống từng lời các anh kể về những năm tháng hoạt động cách mạng, bôn ba hải ngoại, như thuở ấu thơ nghe bà kể chuyện cổ tích. Anh Bùi Lâm kể về phong trào công nhân Pháp, đặc biệt say sưa kể rất nhiều về cách mạng Tháng 10 Nga vĩ đại, về thủ đô của những người đã làm nên cuộc cách mạng ấy, về những nông trường, những nhà máy về những con người Liên Xô bạn bè của anh. Trí tưởng tượng của tôi theo lời kể vượt tường đá của nhà pha đến nước Nga xa xôi của Lê nin. Tôi đã học như một học trò chăm chỉ, với tất cả tâm hồn rộng mở.

Logged

Hỏi thế gian, tình là gì mà đôi lứa thề nguyền sống chết?

kevin

Thành viên
*
Bài viết: 69


Tiếng súng 40 năm« Trả lời #4 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2023, 09:20:10 am »
Nhật đảo chính Pháp. Ban lãnh đạo nhà tù đã bàn những chủ trương biện pháp đối phó với tình huống xấu nhất: Nhật có thể thủ tiêu hết tù cộng sản, hoặc đầy đi xa rồi cũng thủ tiêu sau. Chính phủ Trần Trọng Kim lên không hề nới tay với tù cộng sản. Tuy nhiên, tài liệu của cách mạng vẫy bay lọt qua cửa sắt nhà tù đến với chúng tôi. Trước tình hình ngày càng có lợi cho cách mạng, Đảng đã bố trí cho một số đảng viên vượt ngục.


Ngày 15-8-1945 Nhật đầu hàng vô điều kiện trước sức mạnh tấn công vũ bão của Hồng Quân Liên Xô. Phong trào cách mạng lên cao như thác lũ, triều dâng, tin tức quân giải phóng trên chiến khu thắng lợi ở nhiều nơi vang về, trước sức ép của phong trào quần chúng, ngày 17-8-1945, chính phủ Trần Trọng Kim buộc phải trả lại tự do cho tù chính trị tại Hà Nội.


Chúng tôi say sưa cùng bước qua khung cửa nhà tù, ngước nhìn khoảng không xanh vời vợi trên cáo, căng ngực hít làn không khí thoáng đãng. Lúc đó, tôi mới có thể nhìn kỹ tòa nhà đồ sộ, cái gọi là "bên kia tòa án, bên này nhà lao". Từ cây cổ thụ lảnh lót tiếng chim đang hót.


Ở Hà Nội lúc này, chính quyền đế quốc và tay sai rệu rã lắm rồi, nhưng chính quyền cách mạng chưa được thiết lập. Anh em Đà Nẵng chúng tôi đoán rằng cách mạng sắp cướp chính quyền đến nơi rồi. Về Đà Nẵng hay ở lại tham gia cướp chính quyền ở Hà Nội đây? Tôi đến nhà anh Vũ Kỳ ở 72 phố Thuốc Bắc. Ở trong tù, anh Vũ Kỳ rất thương tôi. Qua anh, gia đình anh giúp đỡ tiếp tế cho tôi rất nhiều. Anh Vũ Kỳ đi vắng!


Trở lại Cửa Nam gặp anh em Đà Nẵng, tim tôi đập mạnh, mỗi lúc mỗi mạnh, mạnh hơn cả khi bọn mật thám xích tay tôi bằng còng số 8 năm nào – Cờ đỏ, cờ đỏ, cờ đỏ và sao vàng!

Cờ đỏ tràn qua các phố như một đám cháy bốc cao, bốc cao mãi. Chúng tôi mừng tưởng hét lên được khi gặp Lê Trọng Nghĩa, đồng chí cùng tù và được Đảng chỉ định vượt ngục. Nháy mắt với chúng tôi, Lê Trọng Nghĩa như muốn nói: "Sắp rồi!" Không khí Hà Nội càng cuốn hút chúng tôi không thể nào cưỡng lại được. Ngay ngày hôm sau tôi được gặp anh Trần Tử Bình, người chiến sỹ cộng sản lão thành đã giương lá cờ đỏ ở đồn điền Phú Riềng năm 1927, người anh mà tôi rất quý mến ở trong tù. Anh khuyên tôi ở lại, và đưa tôi đến gặp anh Khang, xứ ủy viên Bắc Kỳ phụ trách Hà Nội. Tôi được giới thiệu vào "Công nhân xung phong đoàn thành Hoàng Diệu".


Phố phường Hà Nội ngày nay đã đẹp hơn xưa, nhưng Hà Nội trong những ngày cách mạng Tháng 8 năm 1945, đẹp hơn tất cả, đẹp hơn bao giờ hết!

Thất bại trong việc âm mưu dùng Việt Quốc, Việt Cách, tổ chức một cuộc đảo chính, bọn thực dân Pháp chuẩn bị những bước lấn tới chắc chắn hơn. Chúng cho trẻ con, người già yếu của chúng tản cư vào Sài Gòn, hoặc về Pháp, phát súng cho bọn Pháp kiều ở lại, bí mật xây dựng các ổ chiến đấu chiến lược cắm quanh các mục tiêu trọng yếu trong thành phố, kết hợp với các vị trí của quân Pháp nhằm đánh úp ta khi có lệnh. Lúc này ngoài 9 điểm đóng từ 300 quân trở lên như thành Hà Nội, trường Bưởi, trường An-be Xa-rô, nhà thương Đồn Thủy, sân bay Gia Lâm v.v… chúng còn chia quân đóng trên 40 điểm xung yếu khác trong thành phố.


Nhìn cách bố trí của chúng, không cần phải có trình độ quân sự uyên thâm cũng có thể thấy được đòn hiểm của quân đội Pháp ở Bắc Đông Dương do tướng Móc-li-e chỉ huy, dự định đánh ta khi cơ thời cơ:

Dùng chủ lực cơ giới ở trong thành vòng ra, phối hợp và dựa vào các cứ điểm mạnh đã bố trí sẵn, tiêu diệt ngay cơ quan đầu não của ta (Bắc Bộ phủ); tiêu diệt ngay các vị trí của ta cùng đóng quân với Pháp; nhanh chóng chiếm các đầu ô, chốt chẹn Hà Nội rồi sau đó sẽ tiêu diệt các lực lượng vũ trang của ta còn lại, đánh thông nối liền các tỉnh v.v…


Bọn tướng tá Pháp tin chắc sẽ nhanh chóng làm chủ Hà Nội, tiêu diệt đại bộ phận lực lượng bộ đội ta. Ở khách sạn Mê-tơ-rô-pôn1 (Nay là khách sạn Thống Nhất) sang trọng, luôn luôn có người ngoại quốc trú ngụ, hai trăm sỹ quan và binh lính Pháp được ém sẵn. Đây là mũi đột kích nhằm phối hợp với chủ lực trong thành ra có nhiệm vụ tiêu diệt Chính Phủ ta.


Khi bọn Pháp đánh chiếm Hải Phòng, Lạng Sơn, Móng Cái, Hà Nội thưa dần tiếng nhạc từ các phòng trà vọng ra. Đêm đêm, đèn điện vẫn tỏa sáng lòng đường. Gió lạnh đưa tiếng giày đinh của các đội tuần tra Pháp vang xa.


Pháp bất ngờ đổ bộ lên Đà Nẵng. Tin ấy làm cho người tôi nóng ran. Không biết Đà Nẵng có kịp chuẩn bị không? Tôi muốn viết thư về trong ấy, cho Huế, cho Đà Nẵng. Đâu có phải ở hai nơi đó không đủ đất cho tôi "vẫy vùng" như cô bạn tôi đã trách tôi. Hà Nội trong biển cờ đã vẫy gọi tôi. Tôi tin nếu cô bạn tôi có mặt ở Hà Nội trong những giây phút ấy, cũng sẽ xử sự như tôi. Đó là điều khiến chúng tôi, tuy xa nhau mà vẫn trọng nhau cho mãi đến sau này.


Tháng 11-1946, đồng chí Vương Thừa Vũ về làm chỉ huy trưởng khu Hà Nội. Gặp tôi, anh thân mật hỏi:

"Theo đồng chí, tình hình này sắp đến độ bùng nổ chưa?" Cảm thấy trong câu hỏi của anh hình như đã có sẵn câu trả lời, tôi cười tỏ ra không đủ trình độ đoán định một vấn đề nghiêm trọng đến thế.
Quả nhiên ngay ngày hôm đó, tôi được nghe phổ biến nhận định của hội nghị quân sự toàn quốc:

"Không sớm thì muộn Pháp sẽ đánh mình và mình nhất định cũng phải đánh Pháp".

Ở Hải Phòng Pháp đã không chịu ngừng bắn, còn đánh rộng ra Cầu Rào – Cầu Niệm. Nơi nóng của cuộc chiến tranh không tránh khỏi đang nóng dần lên. Các trường học, công sở lần lượt đóng cửa rời khỏi thành phố. Hà Nội bắt đầu tản cư.


Hà Nội vắng hẳn tiếng trống ếch của hàng trăm đội thiếu niên Măng Mọc Thẳng. Hà Nội mọc lên các chiến lũy lầm lì chắn ngang các đầu ô. Đêm đến Hà Nội ầm ầm tiếng búa đục tường thông từ nhà nọ sang nhà kia. Một Hà Nội xa hoa lùi nhanh vào quá khứ, một Hà Nội tự vũ trang cho mình xuất hiện lẫm liệt, đường hoàng.


Công việc của cơ quan khu bộ lúc này nhất là cơ quan tham mưu, bận rộn suốt từ sáng đến khuya. Lo nắm tình hình địch để không bị bất ngờ, kiểm tra công việc chuẩn bị của các tiểu đoàn, nắm lực lượng tự vệ chiến đấu, lực lượng cứu thương, tiếp tế ở các nơi, nắm lực lượng hậu cần của ta, bố trí lại hệ thống tiếp tế, thông tin liên lạc v.v… không ai còn biết gì chuyện nhà cửa, mặc dầu nhiều đồng chí có gia đình ở ngay Hà Nội.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn