TÌNH BẠN VỚI HỒ CHỦ TỊCH
TÌNH BẠN VỚI HỒ CHỦ TỊCH
Theo lời kể của nhà văn Sơn Tùng, trong những năm tháng đầu độc lập, giới nhân sĩ, trí thức, văn nghệ sĩ đàm luận nhiều về “Hồ Chủ tịch trọng dụng hiền tài”. Trường hợp cụ Bùi Bằng Đoàn, đúng là Người đã “tam cố thảo lư”. Hồ Chủ tịch mời hai lần, cụ đều xin Người miễn cho vì lý do sức khỏe và thấy mình ở cái tuổi “vãn niên” rồi. Lần thứ nhất, cụ viện lý do là quan lại cấp cao của Nam triều quá lâu, không hiểu gì về thời thế, sợ không đóng góp được gì cho cách mạng, nên không dám nhận. Hồ Chủ tịch kiên trì gửi lá thư thứ hai, cử Bí thư riêng, trao cho cụ một câu thơ cổ 7 chữ: “Thu thủy tàn hà thính vũ thanh”. Ý nghĩa câu thơ cổ mỗi người luận giải một thẩm độ khác nhau, nhưng đều cùng một tương đắc. Đọc xong câu đó, trong lòng cụ đã có nguyện ý của mình(2).
Năm 1947-1948, cụ hoạt động ở chiến khu Việt Bắc. Tết chiến khu năm 1948, trong không khí đầu xuân chiến thắng, Hội đồng Chính phủ họp và liên hoan lửa trại. Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng cụ một bài thơ bằng chữ Hán:
Khán thư sơn điểu thê song hãn
Phê trát xuân hoa chiếu nghiễn trì
Tiệp báo tần lai lao dịch mã
Tư công tức cảnh tặng tân thi
Dịch là:
Xem sách chim rừng vào cửa đậu
Phê văn hoa núi chiếu nghiên soi
Tin vui thắng trận dồn chân ngựa
Nhớ cụ thơ xuân tặng một bài(3)
Cụ Bùi Bằng Đoàn đã họa lại như sau:
Thiết thạch nhất tâm phù chủng tộc
Giang sơn vạn lý thủ thành trì
Tri công quốc sự vô dư hạ
Thao bút nhưng thành thoái lỗ thi
Dịch là:
Sắt đá một lòng vì chủng tộc
Non sông muôn dặm giữ cơ đồ
Biết Người việc nước không hề rảnh
Vung bút thành thơ đuổi giặc thù(4)
Từ Thượng thư Bộ Hình Nam triều nổi tiếng thanh liêm, chính trực, cụ Bùi Bằng Đoàn đã tham gia chính quyền cách mạng cho thấy tinh thần dân tộc, ý thức trách nhiệm với đất nước và sự trân trọng đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tấm lòng tận trung với nước, tận hiếu với dân của cụ Bùi Bằng Đoàn là một tấm gương sáng để chúng ta kính trọng và noi theo./.
__________________________________
(1), (2) Sơn Tùng: Cụ Bùi Bằng Đoàn, Nxb. Thanh niên, H, 2006, tr. 87, 143-146.
(3), (4) Cảnh Nguyên, Hồ Văn Sơn (tuyển chọn và biên soạn): Thơ Hồ Chí Minh, Nxb. Nghệ An, Vinh, 2005, tr. 238-239, 240-241.



