TÌNH ĐỒNG ĐỘI
Đoạn hồi ký là cuộc gặp gỡ muộn màng đầy xúc động của một người lính già khi quay về tìm lại đồng đội cũ – ông Phái, người bạn chiến đấu đồng hương Nam Định đã cùng vào sinh ra tử từ năm 1949. Đứng trước bàn thờ người bạn vừa nằm xuống, tác giả đã tái hiện lại cho gia đình nghe về hành trình oanh liệt của Trung đoàn 174, từ những trận đánh lừng danh ở Đông Khê, Mường Pồn đến cuộc đối đầu nghẹt thở suốt 38 ngày đêm tại đồi A1. Điểm nhấn của câu chuyện chính là tinh thần mưu trí, kiên trinh của nh
Tôi có dịp quay về tìm người bạn vừa là bạn chiến đấu cùng chiến hào, vừa là đồng hương thành phố Nam Định từ những năm 1949 ở Trung đoàn 174 đại đoàn 316.
Qua khỏi dốc nhà máy bia Nađa tôi hỏi thăm số nhà. Phải 5 phút sau mới tìm đúng số nhà, nhưng lạ thay, đúng tên, đúng số nhà mà thấy trong nhà có nhiều câu đối treo trước bàn thờ, như nhà vừa có tang. Một cô gái chừng 30 tuổi hỏi: "Bác tìm ai?" Sau khi tôi nói rõ họ tên, cô gái ngậm ngùi nói: đây đúng là nhà bố mẹ cháu, nhưng bố cháu mới qua đời được nửa tháng: "Mời bác vào nhà!".
Bước vào nhà thì mẹ cháu và các em cùng ra chào tôi. Tôi cảm ơn và xin lỗi gia đình. Không nhận được tin ông Phái, xin cho tôi được phép thắp nén hương cáo lỗi với người đồng chí, đồng đội đã cùng chiến đấu sống chết với nhau từ lúc chiến sỹ tới cùng lên cán bộ đại đội. Thắp hương xong, tôi ngồi xuống trước vòng vây của mẹ con bà Phái thay nhau dồn hỏi mối quan hệ bạn giữa tôi và ông Phái. Cô gái lớn lại hỏi: Thưa bác, người bạn mà bố cháu thỉnh thoảng lại nói đến luôn, hôm nay gia đình mới biết bác. Bố cháu cùng chiến đấu ở Điện Biên Phủ với bác nhưng bố cháu chẳng kể câu chuyện gì để con cháu biết bố cháu đã làm gì. Sắp đến ngày 7 tháng 5 kỷ niệm chiến thắng vĩ đại, xin bác bớt thời gian kể chuyện chiến đấu Điện Biên Phủ, vừa là tình cảm với mẹ con cháu, với bố cháu để tưởng nhớ những người đã khuất.
Theo yêu cầu tha thiết của mẹ con bà Phái, tôi xin kể tóm tắt về chiến đấu ở đồi A1 mà anh em chúng tôi đã sống chết ở đây:
"Tôi và anh Phái sống chiến đấu cùng nhau từ năm 1949 tới sau chiến thắng Điện Biên Phủ 1954, cùng trung đoàn đi khắp các chiến trường. Trung đoàn 174 của chúng tôi là đơn vị chủ công của Đại đoàn 316 đã lừng danh chiến công trận Đông Khê có anh hùng quân đội đầu tiên La Văn Cầu, rồi chiến dịch Hoàng Hoa Thám, Trần Hưng Đạo, đường 18, Trung du Hòa Bình, luồn sâu vào địch hậu có cứ điểm boong ke, Larive, vào chiến dịch Tây Bắc có Ba Khe, Ca Vịnh, Mộc Châu, Nà Sản, chiến dịch Thượng Lào. Trước khi chuẩn bị chiến dịch Điện Biên Phủ, Trung đoàn chúng tôi đánh địch rút từ Lai Châu về bảo vệ Điện Biên Phủ, có trận Mường Pồn xuất hiện anh hùng Bế Văn Đàn. Sau đó trung đoàn chúng tôi quay vào chuẩn bị công sự đánh địch tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.
Theo kế hoạch ban đầu: Đại đoàn 316 đã giao nhiệm vụ cho Trung đoàn bạn 98 đánh A1 rồi A2, Trung đoàn 174 chúng tôi đánh đồi C1, và C2. Đúng giờ quy định trung đoàn 98 và 174 chờ lệnh tiến công, giữa lúc đó Bộ chỉ huy chiến dịch ra lệnh hoãn để rút về vị trí tập kết. Được Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Đại đoàn phổ biến: Ta chủ trương đánh nhanh giải quyết nhanh, nay do tình hình địch có thay đổi nhiều, nên Bộ chỉ huy chiến dịch chuyển sang đánh chắc, tiến chắc đảm bảo chủ động chắc thắng.
Để đảm bảo phương châm tiến chắc, Bộ Tư lệnh Đại đoàn phân công lại, giao nhiệm vụ đánh A1 cho trung đoàn 174 chúng tôi, vì đã có nhiều kinh nghiệm đánh công sự vững chắc.
Cứ điểm A1 cao nhất khu trung tâm có tầm quan trọng bậc nhất trong 49 cứ điểm của tập đoàn Điện Biên Phủ. A1 nằm phía Đông có thể uy hiếp khống chế và phong tỏa khu trung tâm chỉ huy Mường Thanh thu hẹp vùng trời máy bay tiếp tế của địch. Chiếm A1 quân ta vượt cầu Mường Thanh tiến vào khu sào huyệt chỉ huy của tướng Đờ Cát tổng chỉ huy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.
Cứ điểm A1 là đồn cũ của Pháp xây dựng trước năm 1940; đến năm 1945 Nhật chiếm tu sửa thêm, nay bọn Pháp cải tạo củng cố thành vị trí công sự vững chắc, ở đây chúng bố trí một tiểu đoàn Marôc và một trung đội Lê Dương thiện chiến, có hỏa lực bản thân rất mạnh, dựa vào hầm ngầm, lô cốt, hàng rào dây thép gai, mìn, nhiều lớp, có chi viện các trận địa pháo và xe tăng Mường Thanh và Hồng Cúm chặt chẽ.
17h30 ngày 30 tháng 3 năm 1954 Trung đoàn 174 đánh lần thứ nhất chiếm gần hết, còn lại hầm ngầm cố thủ, địch cụm lại, ban ngày chúng dùng xe tăng pháo binh và bộ binh từ Mường Thanh đánh chiếm lại. Theo lệnh của Bộ Tư lệnh chiến dịch điều Trung đoàn 102, Đại đoàn 308 cùng Trung đoàn 174 tiếp tục chiến đấu nhiều đợt nhưng không chiếm được hầm ngầm của địch.
Từ đêm 1 đến sáng 3/4/1954 trên đồi A1 diễn ra nhiều đợt tiến công và pháo kích quyết liệt không còn một ngọn cỏ. Cán bộ chiến sĩ hai trung đoàn 102 và 174 sát cánh bên nhau chiến đấu dũng cảm tiêu diệt nhiều địch. Đêm ngày 4 tháng 4 Bộ Tư lệnh chiến dịch ra lệnh ngừng tiến công A1, giao lại cho trung đoàn 174 kiên quyết giữ phần cứ điểm đã chiếm được, chuẩn bị chu đáo để tiếp tục tấn công. Ta bắt được trên 30 tù binh địch. Theo lời khai của tù binh, địch đã sửa tầng chìm nhà ăn cũ, chìm sâu xuống thành hầm ngầm, cấu trúc các lỗ châu mai, ụ súng, đào thêm chiến hào, giao thông hào thành các khu ngăn cách khu A, B, C, mỗi khu chứa hàng trung đội có các ổ đề kháng. Ban chỉ huy Trung đoàn sau khi nghiên cứu, báo cáo với Bộ Tư lệnh Đại đoàn 316, được Bộ Tư lệnh chiến dịch phê chuẩn để Trung đoàn 174 đào một đường hầm ngầm luồn sát hầm ngầm địch dài 49m để chứa được 1 tấn thuốc nổ. Trên tăng cường cho 1 tổ công binh có kinh nghiệm và kỹ thuật.
Từ ngày 20 tháng 4 quân ta bắt đầu đào, những đêm đầu đào rất gian khổ, đất đào bỏ từng túi mang ra ngoài, càng vào trong càng thiếu không khí, không triển khai nhiều người mà phải thay nhau chuyển đất, và dùng quạt nan quạt không khí vào hầm, dùng đèn ắc quy để rọi sáng, dùng la bàn để đảm bảo đúng hướng ngầm địch. Trong khi đó bộ phận trên mặt đất đồi A1 vẫn chiến đấu, hàng ngày 3 đến 4 lần địch tấn công, nhưng quân ta chiến đấu bảo vệ được bí mật đào hầm.
Sau 16 ngày đêm đã đào được 49m và đào thêm ngách chữ T để chứa thuốc nổ 1 tấn.
Trưa ngày 6 tháng 5, trung đoàn trưởng Nguyễn Hữu An trực tiếp xuống kiểm tra toàn bộ công việc của bộ phận phụ trách khối bộc phá.
Theo lệnh của Bộ Tư lệnh chiến dịch do Bộ Tư lệnh Đại đoàn truyền xuống cho Trung đoàn 174 khống chế thời gian, lấy tiếng nổ của khối bộc phá hầm ngầm đồi A1 làm hiệu lệnh chung cho toàn bộ chiến dịch đợt tấn công quyết định. Toàn bộ các đơn vị chiến dịch đều hướng về đồi A1 để chờ lệnh.
Đúng 20h30 ngày 6 tháng 5 năm 1954, một tia chớp xanh loé lên và một tiếng ục nặng nề om dưới lòng đất như một quả bom nổ chậm giữa lúc trời tranh tối tranh sáng, qua màn đêm quan sát thấy đồi A1 có nhiều cột khói bụi đất bốc lên.
Tiếng nổ om trong lòng đất đã làm nhiều tên địch bị chết ngất vì sức ép. Đại bộ phận địch choáng vì ù tai. Quân ta áp sát hầm ngầm ập vào nên địch không kịp đối phó; quân ta xung phong thuận lợi. Sau 15 phút trung đội đầu cầu chiếm được phía bắc đồi A1, các mũi đại đội khác chiếm các phân khu A, B, C. Xung phong vào hầm ngầm rồi nhanh chóng chia nhiều hướng truy quét đã bắt sống 122 tù binh do quan ba Pugiê chỉ huy. Đúng 4 giờ 30 ngày 7 tháng 5, trung đoàn 174 đập tan sức kháng cự của địch làm chủ hoàn toàn đồi A1, các đơn vị bạn khác ào ạt tấn công địch toàn mặt trận.
Tiêu diệt A1 là một trong những trận đánh ác liệt nhất trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Trong 38 ngày đêm lúc tấn công khi phòng ngự, giành giật với địch từng tấc đất, cán bộ chiến sỹ trung đoàn 174 đã vượt muôn vàn gian khổ, hy sinh trong bom đạn người này ngã, người khác xông lên để giành thắng lợi cuối cùng.
Tiếng nổ của khối bộc phá một ngàn cân trong lòng đồi A1 không lớn, nhưng nó đã góp phần làm nên tiếng nổ Điện Biên Phủ chấn động địa cầu.
Đấy, anh em chúng tôi lúc bắt đầu vào trận đánh từ cơ quan tham mưu và chính trị trung đoàn 174 được xuống trực tiếp thay thế làm đại đội trưởng và chính trị viên đại đội để chiến đấu tại đồi A1. Anh em chúng tôi cũng may mắn chỉ bị thương nhẹ, tiếp tục chiến đấu hoàn thành nhiệm vụ đến cùng.
Sau chiến dịch, anh em chúng tôi được điều đi công tác mỗi người một nơi, hôm nay mới có dịp tìm lại nhau để ôn lại những ngày gian khổ chiến đấu, nhưng lại không gặp nhau. Tôi đã làm nhiệm vụ kể lại để cho chị và các cháu nghe, nhớ lại công sức và tự hào về anh Phái đã góp cho cuộc chiến đấu bảo vệ tổ quốc oanh liệt".


