TÌNH MẸ
TÌNH MẸ
Một sáng xuân ấm áp, chúng tôi tới thăm Bà mẹ Việt Nam anh hùng Bùi Thị Tý ở thôn Quỳ Khê, xã Liên Khê, huyện Thủy Nguyên. Mẹ đã bước vào tuổi bảy lăm nhưng vẫn còn khỏe và nhanh nhẹn. Mẹ vui vẻ tiếp chúng tôi trong ngôi nhà tình nghĩa khang trang - tấm lòng của Đảng, của chính quyền địa phương và cháu con dành cho mẹ. Nghe chúng tôi hỏi về cuộc đời mình, mẹ chỉ cười. Ông Bồng - em chồng - kể cho chúng tôi nghe về quê hương, về sự hy sinh to lớn của gia đình mẹ. Liên Khê là miền quê giàu truyền thống lịch sử và văn hóa. Nhân dân cần cù lao động và anh dũng kiên cường trong đánh giặc giữ nước. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Liên Khê nằm trên trục đường chiến lược quan trọng Hải Phòng - Uông Bí, luôn bị địch càn quét, khủng bố ác liệt. Chúng xây 4 đồn và 14 lô cốt kìm kẹp nhân dân, ngăn chặn lực lượng vũ trang ta. Những cuộc tàn sát dã man như treo cổ, chặt đầu, thiêu cháy, bỏ rọ trôi sông những người tham gia kháng chiến diễn ra thường xuyên. Nhưng sự tàn bạo của kẻ thù vẫn không thể khuất phục được tinh thần yêu nước, tin theo Đảng, Bác Hồ của người dân Liên Khê. Trong những ngày tháng cam go, đầy hy sinh gian khổ ấy, chồng mẹ là ông Nguyễn Đình Phùng đã bí mật tham gia du kích. Ông tham gia chiến đấu nhiều trận, đánh địch ở Cầu Giá, trên đường máng nước, phục kích, diệt đồn. Ông phụ trách trung đội trung kiên, rồi tham gia Ủy ban kháng chiến hành chính xã. Biết ông Phùng đi theo Việt Minh, chính quyền tay sai địch thường xuyên dọa nạt, o ép. Mẹ Tý vẫn nén chịu, làm lụng ngày đêm, lặng lẽ nuôi hai con nhỏ, đóng góp cho kháng chiến. Mẹ còn đào hầm bí mật nuôi giấu cán bộ, bộ đội. Cuối năm 1953, quân Pháp càn quét lớn vào khu căn cứ kháng chiến của xã. Cuộc chiến đấu ác liệt diễn ra trong nhiều ngày. Ông Phùng đã ngã xuống trong niềm tiếc thương vô hạn của đồng bào, đồng chí. Được đoàn thể và nhân dân trong xã đùm bọc, bà nén đau thương, thờ chồng, nuôi con và tích cực tham gia kháng chiến, góp phần nhỏ bé vào thắng lợi chung của toàn dân tộc. Quê hương được giải phóng, tuy một nách hai con trai nhỏ, công việc đồng áng vất vả, mẹ vẫn hăng hái tham gia hoạt động xã hội. Các con trai của mẹ ngày một trưởng thành. Mẹ dồn tất cả tình thương cho đứa con yêu quý. Thế rồi đế quốc Mỹ gây ra cuộc chiến tranh xâm lược trên cả đất nước ta, ngày càng khốc liệt. Bom đạn thù tàn phá quê hương. Lớp học của trẻ thơ cũng phải đưa vào hang núi, hạ xuống lòng đất. Trai tráng trong làng lần lượt lên đường đánh giặc. Các bác, các chú ruột và anh em trong họ nối tiếp nhau nhập ngũ càng thôi thúc các con của mẹ. Năm 1966, vừa bước vào tuổi 18, anh Tạo viết đơn tình nguyện vào bộ đội. Hai năm sau, 1968, dù cha là liệt sĩ, anh trai đang chiến đấu ở chiến trường xa, anh Tân vẫn năn nỉ xin mẹ cho được lên đường đánh giặc cứu nước. Biết rằng hai con nhập ngũ, ở nhà mẹ sẽ vất vả, ai chăm sóc cho mẹ lúc trái gió, trở trời… Nghĩ vậy nhưng mẹ không ngăn cản vì biết các con đã trở thành người lớn. Tân mang theo tình thương của mẹ, ý chí của cha, cùng truyền thống của quê hương vào trận đánh. Các anh đã lập công xuất sắc, giành danh hiệu “dũng sĩ diệt Mỹ” và vĩnh viễn nằm lại trong lòng miền Nam ruột thịt.



