tinh thần quả cảm người phụ nữ anh hùng Bình Thị Sen
Má Bình Thị Sen là người dân tộc Chơro. Khi cô Bình Thị Sen đến tuổi bắt chồng thì bọn thực dân Pháp đến chiếm vùng đất đỏ bazan màu mỡ. Chúng dùng vũ khí xua đuổi họ ra khỏi sóc, buôn, nương rẫy đang canh tác. Chúng ra lệnh: muốn sống ở đâu, phải bốc nắm đất nơi đó cho chúng coi. Nếu là đất đỏ, họ phải đi xa nữa, tới chỗ nào không có đất đỏ mới thôi. Cô Bình Thị Sen bắt chồng (1) khi sóc của bộ tộc làm ruộng ở Cây Da (Bình Lộc) chỉ có đất xám. Cô tận mắt thấy quan Tây, sếp xu, cai đánh đập tàn tệ phu contrat Bình Lộc. Chồng cô là chức việc mà không được léo hánh phạm vi đồn điền đất đỏ Tây ăn cướp của người Chơro. Cô sinh hạ tám con, Yàng (2) chỉ để sống năm bởi cuộc sống cơ cực thiếu ăn, thiếu thuốc. Khi cô trở thành bà Bình Thị Sen đứng tuổi, có một lúc trông thấy cờ đỏ sao vàng như bây giờ. Thanh niên quê bà mang tên, ná, chà gạc … đi đánh Tây ở Sài Gòn; thế rồi quan lính Tây lại trở về Xuân Lộc bắn súng đì đùng đêm ngày. Nhà bà ở ruộng Cây Da hẻo lánh, cách quận mấy cây số đường rừng nên bà cũng chỉ nghe thấy thôi. Rằng ông Điểu Xiển - người Chơro ở gần đó bị Tây bắt, dụ hàng nhưng ông không chịu, chúng cột ông vào xe ô tô, mở máy cho xe chạy kéo lết tới xương tan thịt nát. Rằng Việt Minh chỉ có gậy tầm vông, chỉ có quan Tây nhiều súng lớn... Một bữa, Tây và lính đồn (1) Tục kết hơn của dân tộc Chơro: con gái lấy chồng theo mẫu hệ. (2) Trời. SÁNG NGỜI CHẤT NGỌC ANH HÙNG vào sóc bắt dân bỏ nơi đang ở, gom về trong đồn điền cao su. Cuộc sống tù hãm cực khổ kéo dài từ đó. Thực dân Pháp thua to, rút về nước. Đế quốc Mỹ nhảy vào miền Nam thay chân. Gia đình má và bà con Chơro ở Bình Lộc vẫn khổ, những cảnh bắt bớ, tù đầy, bắn giết xảy ra chẳng khác thời còn Tây. Các con má đều lớn, lần lượt lập gia đình. Má vui vì có cháu nội, cháu ngoại. Người con thứ sáu của má là anh Bình Văn Triện tham gia công tác mật ở địa phương cùng với con rể Bình Văn Biển. Má không nhớ tuổi họ cũng không biết các anh tham gia cách mạng lúc nào. chỉ biết đêm 22 tháng 10 năm Nhâm Dần (18/11/1962) lính bao nhà các anh: Sáu Triện, Biển và Tư Tòng. Chúng bắt trói dẫn ra lô cao su Tín Nghĩa (Bình Lộc) xả súng bắn chết rồi quăng ba xác xuống một giếng cạn, thủ tiêu mất tích. Địch khủng bố các gia đình có người theo giải phóng. Con rể bị địch giết, chúng gây khó dễ cho chị Bảy Quyên (Bình Thị Quyên) - con gái má, vợ anh Biển. Chị có hai con, sống không yên, gửi lại cho má. Chị đi thoát ly, tham gia du kích địa phương, mới đầu hoạt động ở Bình Lộc, sau chuyển lên Túc Trưng rồi Bến Nôm. Má thương con gái, có lúc tìm đi thăm, dù nhà nghèo má cũng cố mua đôi ba món mang lên gọi là gửi gắm chút tình thương. Chị Bảy Quyên được giao nhiệm vụ thu thuế xe be vào rừng khai thác gỗ. Địch làm chủ thị xã, thị trấn và các trục giao thông huyết mạch; nhưng rừng núi mênh mông thì thuộc về ta. Các chủ xưởng cưa, xưởng mộc muốn có nguyên liệu sản xuất đã nghiêm chỉnh nộp thuế cho giải phóng. Nhờ vậy ta có tiền chi tiêu cho sự nghiệp chống Mỹ. Sau các đợt tập kích chiến lược xuân Mậu Thân, tới xuân Kỷ Dậu, Mỹ phải ngồi vào bàn Hội nghị Paris, bắt đầu rút dần quân Mỹ và chư hầu, trút gánh nặng xương máu lên vai chính quyền Sài Gòn. Để bảo đảm an toàn cho việc rút lui, địch đánh phá dữ dội ven tam giác chiến lược Sài Gòn - Biên Hòa - Vũng Tàu. Chị Bảy Quyên hy sinh ở Bến Nôm ngày 19 tháng 9 năm Tân Hợi (6/11/1971) do địch gài trái. Chúng dùng xác chị làm cái bẫy để phục kích đánh tiếp. Hơn nửa tháng sau, thú rừng ăn xác, tha xương mỗi nơi một khúc. Khá lâu sau, má Sen mới nghe tin con chết. Má khóc lóc vật vã, bỏ ăn mấy ngày liền. Người con dâu thứ hai khuyên giải mãi má mới nguôi ngoai đôi chút. Anh Huỳnh Văn Hòa, con trai thứ tám, sắp đến tuổi quân dịch, xin má cho đi thoát ly. Anh vào du kích, mấy năm đi đi về về giữa Bình Lộc và Bảo Chánh. Tháng 8 năm Nhâm Tý (9/1972), địch bao vây căn cứ Bảo Chánh, bắn chết Tám Hòa và một anh nữa. Bom đạn giặc rót như mưa vào khiến thi hài hai liệt sĩ hòa cùng đất cát, đá núi. Má nghe tin dữ, chết lên chết xuống nhiều lần. Sau ngày giải phóng, má mới thật sự tin các con đã hy sinh. Má và gia đình được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Ba năm 1985. Riêng má được Nhà nước trao tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng theo Quyết định số 394/KTCTN ngày 17/12/1994. Má được chính quyền địa phương, các đoàn thể chăm sóc, phụng dưỡng, nhiều lần được mời dự các sự kiện quan trọng của địa phương, được ra thăm lăng Bác… nên sống vui, sống khỏe đến năm 2002. 451



