TÌNH YÊU KIÊN ĐỊNH TRONG THỜI CHIẾN
Chiến tranh qua đi không chỉ để lại những vệt thương của bom đạn, mà còn khắc ghi bao câu chuyện tình yêu bền bỉ, được thử thách qua suốt những năm dài chia cắt. Ở tuổi ngoài chín mươi, Đại tá Nguyễn Hữu Tài – nguyên Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn 209 (Đại đoàn 312), nguyên Cục phó Cục Quân huấn (Bộ Quốc phòng) – vẫn vẹn nguyên những ký ức rưng rưng về một thời lửa mạn. Phía sau 47 năm cống hiến cho sự nghiệp binh nghiệp, kinh qua cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, chiến công hiển hách của ông luôn gắn liền với hình bóng một người phụ nữ lặng lẽ nơi hậu phương: bà Phạm Thị Vinh.
Trong căn phòng nhỏ khi chiều muộn, ánh nắng hắt qua ô cửa sổ, người đại tá già lặng lẽ giở lại những bức ảnh đã nhuốm màu thời gian. Bà Vinh đã đi xa từ năm 2018, nhưng với ông, mỗi tấm hình – dù úa sắc hay mờ dại theo năm tháng – vẫn như vẹn nguyên hơi ấm của một đời người đã cùng ông đi qua những gian khổ tột cùng.
Tình yêu của ông bà bắt đầu từ năm 1956. Khi ấy, ông là một cán bộ trung đoàn trẻ công tác tại Hà Nội, còn bà là cô giáo ở Hải Dương. Ngày ấy, khoảng cách địa lý không tính bằng giờ xe chạy mà bằng những chuyến tàu hỏa chật vật, những lần lỡ chuyến vì việc quân, việc lớp. Có những đêm quá nhớ người thương, người lính trẻ ấy lại lầm lũi đạp xe xuyên đêm hàng chục cây số chỉ để gặp nhau trò chuyện đôi mươi phút rồi vội vã chia tay. Mối duyên ấy không bắt đầu từ những lời tỏ tình lãng mạn, mà bén rễ từ sự đồng cảm, nếp nghĩ chung và lòng tin sâu sắc vào lý tưởng cách mạng của hai người con thuộc gia đình giàu truyền thống.
Năm 1958, ông bà nên duyên vợ chồng. Thế nhưng hạnh phúc chưa trọn vẹn thì người lính lại tiếp tục lên đường. Đến năm 1966, ông nhận lệnh vào chiến trường miền Nam, để lại người vợ trẻ cùng hai con thơ tại Hà Nội. Cuộc chia ly kéo dài đằng đẵng suốt 8 năm trời. Từ 8 chiến dịch trong kháng chiến chống Pháp (bao gồm cả chiến dịch Điện Biên Phủ) cho đến các mặt trận gian khổ ở Đông Nam Bộ, miền Nam và Campuchia, ông đi biền biệt, không hẹn ngày về.
Ở nơi hậu phương thời bao cấp thiếu thốn, bà Phạm Thị Vinh một mình vừa làm mẹ, vừa làm cha. Lặng lẽ gánh vác mọi bôn ba, bà nuôi dạy các con khôn lớn và làm điểm tựa tinh thần vững chắc để người chiến sĩ yên tâm cầm súng. Như lời ông tri ân về người bạn đời: bà đã hoàn thành trọn vẹn nghĩa tình của một người vợ xa chồng, kiên định, chung thủy và hết lòng vì gia đình.
Năm 1974, ông ra Bắc nhận nhiệm vụ mới tại Bộ Tổng Tham mưu và trở về căn nhà số 30 Hàng Da mà không báo trước. Giây phút đoàn tụ vỡ òa xen lẫn bao nghẹn ngào: đứa con nhỏ còn ngơ ngác chưa nhận ra cha, còn người vợ đón ông trong nỗi bùi ngùi vì mẹ vừa mới qua đời. Trong chiếc ba lô từ chiến trường ra, ông cẩn thận mang theo chiếc máy ghi âm cùng cuộn băng nhạc cải lương – món quà định tặng cho người mẹ vợ vốn rất thích xem cải lương ở rạp Hàng Da. Nhưng bà đã không còn để nhận. Nỗi xót xa ấy trở thành vết khắc khôn nguôi trong lòng người lính.
Trở lại công tác tại Cục Quân huấn, ông vội gác lại tình riêng để tập trung cho những phương án tác chiến then chốt. Và rồi, giờ phút lịch sử cũng đến. Trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975, tại trụ sở Tổng hành dinh (nhà 4 con rồng - Điện Kính Thiên), không khí vỡ òa khi Trung tướng Cao Văn Khánh chạy vào reo hò: "Thắng rồi, ta thắng rồi!". Lần đầu tiên, Bộ Tổng tư lệnh đốt pháo ăn mừng. Tiếng vỗ tay, tiếng hò reo vang dội: từ nay đất nước không còn chiến tranh! Với Đại tá Nguyễn Hữu Tài, chiến thắng ấy không chỉ là cột mốc lịch sử của dân tộc, mà còn là khoảnh khắc ông biết mình đã giữ trọn lời hứa với gia đình: hòa bình đã về, và người lính đã có thể thực sự trở về nhà.
Hôm nay, dù người bạn đời đã đi xa, mỗi khi nhắc về bà, giọng ông lại chầm chậm lắng xuống. Mối tình thời chiến của ông bà không chỉ là tình cảm đôi lứa đơn thuần, mà còn là biểu tượng của ý chí, nghị lực và sự gắn kết giữa tiền tuyến với hậu phương. Hình bóng người vợ tảo tần vẫn hiện diện trong nếp nhà quen thuộc, trong từng kỷ vật và trong khoảng lặng êm đềm của mỗi buổi chiều buông.



