Tình yêu và sự hy sinh anh dũng, đẹp hơn cả trong thơ
“Em sống trung thành chết thủy chung/ Anh ngước nhìn lên hai dốc núi/ Hàng thông bờ cỏ con đường quen/ Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng khói/ Núi vẫn đôi mà anh mất em”.
Nhà thơ Vũ Cao nghe câu chuyện dân làng Phù Linh kể về chị, xúc động sáng tác nên bài thơ Núi Đôi nổi tiếng. Tôi cũng như bao người đinh ninh rằng, có một người con gái đã hy sinh giữa tuổi thanh xuân tươi đẹp. Chỉ đến khi lên Sóc Sơn, gặp bà Trần Thị Thiệp, em gái liệt sỹ, có khuôn mặt hao hao như ảnh chị Bắc, lại được đọc tư liệu của các nhân chứng lịch sử, tôi mới được biết thêm về cuộc đời và mối tình của chị với anh bộ đội Trịnh Khanh thuộc đại đội Trần Quốc Tuấn, trung đoàn 121- đơn vị chủ lực chiến đấu ở vùng đồng bằng- trung du Bắc Bộ.
Chị và anh đã tình cờ gặp nhau ở xã Bắc Sơn khi anh đóng quân tại đây và chị theo học lớp y tá. Họ cùng nhận nhau là đồng hương Phù Linh, bởi anh là người Vệ Linh. Tình yêu chớm nở và đơm hoa trên nẻo đường kháng chiến. Họ hẹn nhau sẽ tổ chức đám cưới sau khi anh đánh thắng giặc ở trận Bắc Hồng (Đông Anh). Thông cảm với hai con, mẹ chị đã gánh bánh kẹo ra vùng tự do Hồng Kỳ cho anh chị làm lễ cưới ngày 9-12-1953. Chiếc giường hạnh phúc thời kháng chiến là ổ rơm thơm dịu ngọt mùi rơm rạ. Hai ngày sau, chị phải tạm biệt anh, trở về quê hương làm nhiệm vụ. Anh không ngờ đó lại là cuộc chia ly vĩnh viễn.
Ngày 16-3-1954, 22 giờ đêm, chị dẫn đường cho đoàn cán bộ từ vùng tự do vào vùng tạm chiếm ở xã Phù Linh để chuẩn bị cho một trận chiến đấu. Vừa đến khu ruộng ở bãi Thái Hòa (nay ở gần trạm máy nước Xuân Đoài), cả đoàn rơi vào ổ phục kích của địch. Chị đã hô to lên cho các đồng chí biết. Giặc điên cuồng xả đạn vào người chị. Ngay trong đêm, xã đội cử bốn du kích là ông Túc, ông Thuộc, ông Hội, ông Viết Thị làm nhiệm vụ lấy xác chị Bắc. Các ông đến được nơi chị ngã xuống thì máu đã chảy loang trên bãi cỏ. Đồng đội gạt nước mắt, cõng chị về chùa Vệ Sơn Đoài (Tân Minh). Lễ mai táng liệt sỹ Trần Thị Bắc ở khu vực Cầu Cốn được tổ chức trang trọng với sự có mặt của các đồng chí huyện ủy Đa Phúc và đồng đội, nhân dân trong xã Lạc Long. Riêng gia đình chị đang ở Lương Sơn cùng bà con trong khu địch dồn dân, không có mặt trong giây phút thương đau ấy. Bà Trần Thị Thiệp, em gái liệt sỹ Trần Thị Bắc kể: Đêm ấy, nghe nó vãi đạn mooc chi ê liên tục từ Núi Đôi, mẹ tôi cũng không ngủ được, luôn cầu trời khấn phật cho chị thoát khỏi nguy hiểm. Sáng sớm hôm sau, chị Hợi tôi ra đồng Sen, thấy chiếc khăn láng đen giống hệt khăn của chị Bắc trên đồng, mang về cho mẹ tôi. Bà cụ khóc, đau cắt ruột mà cũng không ra mộ chị ở Cầu Cốn được. Bọn địch gọi hết dân làng ra bãi Chè thôn Lương Châu để điểm mặt, kiểm thẻ căn cước. Lúc ấy, cha tôi đang đi dân công hỏa tuyến phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ, cũng không về được. Con gái mất, chồng đi dân công biền biệt không tin tức, mẹ tôi ốm mấy trận, tưởng không qua khỏi. Mãi đến sau hòa bình, mới thấy ông cụ về.
Tôi hỏi bà Thiệp câu chuyện ông Trịnh Khanh, bà kể: Năm 1955, ông về Cầu Cốn tìm mộ vợ rồi chuyển mộ về quê ông ở làng Vệ Linh (sau này, các liệt sĩ của Sóc Sơn được chuyển về xã Tiên Dược, chị Bắc quây quần với đồng đội ở đó).
Sau ba năm để tang vợ, chính mẹ chị Bắc cùng mẹ đẻ và mẹ nuôi của ông Khanh đã đi hỏi vợ cho ông. Từ đó đến trước khi ông mất (năm 2013), dù ông sống ở thôn Hậu Dưỡng, xã Kim Chung (Đông Anh), gia đình chị Bắc vẫn coi ông Khanh như anh rể lớn trong nhà, tình nghĩa trước sau vẹn tròn trong mỗi dịp lễ tết, hiếu hỉ của gia tộc chị. Câu chuyện tình đời kết thúc có hậu, nhân nghĩa, có thủy, có chung. Hình ảnh chị sống trung thành chết thủy chung càng đẹp trong tâm khảm mỗi người hôm nay. Tháng 7-2018, Nhà nước đã vinh danh liệt sĩ Trần Thị Bắc là Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân. Quê hương Sóc Sơn thật tự hào về người nữ Anh hùng đã trở thành biểu tượng cao đẹp cả trong thơ và trong đời cho thế hệ sau noi theo.



