1. Các đơn vị vũ trang tự lập sau ngày 23 tháng 9 nảm 1945.
Vào cuối tháng 11, đầu tháng 12 năm 1945, Pháp đánh nống ra hầu khắp các tỉnh ở Nam Bộ. Nhiều người dân Sài Gòn trước đây tản cư về các vùng nông thôn Nam Bộ, nay gặp khó khăn đã phải trở lại vùng địch tạm chiếm để sinh sống. Trước tình hình đó, Xứ ủy Nam Bộ quyết định cử một số cán bộ, đảng viên vào nội thành có nhiệm vụ tổ chức, hướng dẫn lãnh đạo nhân dân đấu tranh ngay tại sào huyệt kẻ thù. Ngoài các đoàn thể của quần chúng, các tổ chức chính trị nằm trong Mặt trận Việt Minh được củng cố và phát triển sâu rộng, còn có các đội "cảm tử" trụ bám ở các vùng ngoại ô cùng các tổ dân quân du kích. Được Xứ ủy và Khu bộ Khu 7 lãnh đạo, chỉ đạo, các tổ chức vũ trang hoạt động nội thành từ trước đó được phát triển thêm. Các địa bàn cơ sở yếu từng bước được củng cố. Thế trận chiến tranh nhân dân ngày càng tỏ rõ sức mạnh, đánh địch có hiệu quả hơn.
Từ thục tiễn sống động của thế trận chiến tranh nhân dân, nhiều tổ chức vũ trang tự lập trong thành phố nhanh chóng hình thành dưới các tên gọi: Ban trinh sát Hùng Vương, Ban trinh sát Quân chính, Ban Vô hình, Ban Trừ gian, Đội cảm tử Nguyễn Bình, Nhóm "Dao găm"...
2. Các Ban công tác thành
Trong chuyến đột nhập nội thành để khảo sát tình hình vào cuối năm 1945, Khu bộ trưởng Nguyễn Bình thấy cần phải chấn chỉnh lại các lực lượng vũ trang tự lập để tăng tính hiệu quả hoạt động tác chiến. Sau cuộc họp ở Gò Cát và Bình Hưng Hòa (giáp ranh Chợ Lớn) và cuộc họp ở ấp 4 xã Vĩnh Lộc, huyện Hóc Môn, vào ngày 6 tháng 1 năm 1946, Khu bộ trưởng quyết định hợp nhất tất cả các tổ chức bán quân sự đã có trước đó thành một lực lượng lấy tên chung là các Ban công tác Thành.
Để thực hiện phương án này, Khu bộ trưởng khẩn trương tiến hành một số công việc cụ thể:
- Ủy quyền cho đồng chí Nguyễn Xuân Diệu là đại diện Khu bộ trưởng tiến hành vận động thực hiện sự chỉ huy thống nhất các Ban công tác Thành.
- Thành lập Ban chỉ quân sự thành Sài Gòn - Chợ Lớn, đặt dưới sự chỉ huy của Khu 7. Thành phần của Ban chỉ huy quân sự thành gồm các đồng chí:
Đặng Kim Thành (tức Nguyễn Xuân Diệu) - Chỉ huy trưởng.
Trịnh Văn Hà (tức Nguyễn Văn Tư) - Chỉ huy phó.
Vũ Kiên Chính (tức Nguyễn Mạnh Liên) - Chỉ huy phó.
Vào đầu tháng 5 năm 1946, tại văn phòng Ban công tác số 2 ở ấp 5, xã Vĩnh Lộc đã diễn ra cuộc họp gồm các đồng chí Nguyễn Đình Chính (Ban công tác số 1), Nguyễn Văn Tôn (Ban công tác số 2) và Nguyễn Văn Hân (ban công tác số 3) do đồng chí Nguyễn Xuân Diệu - đại diện khu bộ trưởng, Khu 7 chủ trì. Hội nghị thảo luận quyết định của Khu bộ trưởng, thống nhất chỉ huy ba ban công tác trực thuộc Ban chỉ huy Thành. Tiếp đó, thêm ba ban công tác (4, 5, 6) ra đời trong hai tháng 5 và 6, đặt dưới sự chỉ huy chung của Ban chỉ huy quân sự thành.
Cùng thời gian này, Khu bộ trưởng đã quyết định công nhận Ban công tác đặc biệt - một tổ chức tình báo của ta hoạt động ở Sài Gòn - Chợ Lớn. Ban công tác đặc biệt cũng được đặt dưới sự lãnh đạo của Ban chỉ huy quân sự thành, do đồng chí Cao Văn Tây trực tiếp chỉ huy.
Việc thống nhất chỉ huy các Ban công tác thành là một chủ trương đúng đắn, tạo được sự đoàn kết hiệp đồng, khắc phục được tình trạng phân tán, nâng cao được hiệu suất chiến đấu. Chủ trương trên được thống nhất thực hiện, nhưng thực tê đã nảy sinh tình trạng ban nào cũng đểu muôn được Khu bộ trưởng Nguyễn Bình - một cán bộ quân sự dũng cảm, năng động, quyết đoán được Trung ương và Chủ tịch Hồ Chí Minh cử vào, trực tiếp chỉ huy. | |
Logged
| Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế |
|
|
quansuvn | 
| Tự vệ thành Sài Gòn-Chợ Lớn những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp« Trả lời #4 vào lúc: 29 Tháng Ba, 2021, 03:35:49 pm » | 3. Tự vệ Thành
Đồng thời với việc chấn chỉnh, củng cố và thống nhất chỉ huy các Ban công tác, Khu bộ trưởng ra quyết định xây dựng một lực lượng quân sự mới lấy tên là Tự vệ Thành Sài Gòn - Chợ Lớn. Đây là quyết định đã được thống nhất từ trước giữa Khu bộ trưởng Nguyễn Bình với đồng chí Nguyễn Văn Hoàn (tức Hà Ngọc Tiếu) và đồng chí Hà Ngọc Tiếu được phân công tổ chức. Nhiệm vụ của lực lượng Tự vệ Thành là:
- Nếu Pháp nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định sơ bộ (6-3-1946) ngừng tiến công quân sự thì Tự vệ Thành là lực lượng giữ trật tự trong thành phố và hỗ trợ cho chính quyền cơ sở cùng nhân dân trong khu vực, công nhân các xí nghiệp đấu tranh bảo vệ việc thi hành hiệp định.
- Nếu thực dân Pháp tráo trở, không thực hiện Hiệp định đã ký, thì Tự vệ Thành sẽ là lực lượng quân sự của chính quyền cơ sở cùng với nhân dân từng khu vực đánh địch ngay trong nội thành.
Để thực hiện được nhiệm vụ trên, Tự vệ Thành phải được tổ chức theo khu vực phụ trách của chính quyền cách mạng cơ sở. Đồng chí Nguyễn Văn Hoàn về thành phố tháng 6 năm 1946, hoạt động dưới sự lãnh đạo của Thành bộ Việt Minh. Mới hoạt động được hai tháng thì đồng chí Hoàn bị địch bắt trong dịp kỷ niệm ngày Tổng khởi nghĩa (19-8-1946). Nhằm tạo điều kiện xúc tiến việc tổ chức Tự vệ Thành phù hợp với quyết định trước và căn cứ vào đề nghị của đồng chí Nguyễn Xuân Diệu, Khu bộ trưởng Nguyễn Bình giao cho Ban chỉ huy quân sự thành đặc trách chỉ huy cả Tự vệ Thành.
Khoảng giữa năm 1947, Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn tiến hành hội nghị cán bộ Đảng toàn thành tại kênh Bà Vụ (Vườn Thơm, Trung Huyện, Chợ Lớn). Đồng chí Lê Duẩn thay mặt Xứ ủy dự hội nghị. Nội dung chủ yếu thảo luận ở hội nghị là công tác xây dựng lực lượng cách mạng và hoạt động của lực lượng này ở thành phố. Hội nghị thống nhất chủ trương đối với hoạt động trong nội thành, Đảng phải đi sâu vào phong trào quần chúng, phải tiến hành kết hợp đấu tranh chính trị - kinh tế với đấu tranh quân sự, trừ gian, diệt ác. Hội nghị chủ trương đẩy mạnh các hoạt động bí mật, công khai và nửa công khai; không hợp pháp, hợp pháp và nửa hợp pháp.
Tư tưởng chỉ đạo của ta là chủ động tiến công địch chứ không "trường kỳ mai phục". Những nội dung cơ bản mà hội nghị thống nhất đã đặt nền tảng về chủ trương, biện pháp cụ thể cho đấu tranh vũ trang tại một thành phố lớn như Sài Gòn.
Hội nghị bầu đồng chí Nguyễn Văn Mười (tức Mười Cúc hay Nguyễn Văn Linh1 (Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam - khóa VI (1986-1992)) làm Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn.
Từ cuối năm 1947, trước yêu cầu của cuộc kháng chiến, trên địa bàn Nam Bộ đã thống nhất thành lập hệ thống các đơn vị dân quân, du kích và bộ đội địa phương. Trên cơ sở chủ trương đó, Tự vệ Thành có những biến động về tổ chức và mang những tên gọi khác nhau.
a) Thành lập Liên dội du kích Sài Gòn - Chợ Lớn
Cùng với việc thành lập các trung đoàn vũ trang tập trung của thành phố (trong đó có trung đoàn Phạm Hồng Thái), các Tỉnh đội dân quân, các Ban công tác và Tự vệ Thành trước đây thuộc Khu 7 được chuyển thành lực lượng vũ trang địa phương (địa phương quân) trực thuộc Ủy ban kháng chiến hành chính Sài Gòn - Chợ Lớn.
Tháng 11 năm 1947, Thành ủy và Ủy ban kháng chiến hành chính Sài Gòn - Chợ Lớn quyết định biên chế các ban công tác và Tự vệ Thành thành các đại đội du kích của thành phố, gọi là Liên đội du kích thành Sài Gòn - Chợ Lớn. Liên đội này đặt dưới sự chỉ huy của Ban Dân quân thành mới được thành lập do một đồng chí Phó bí thư Thành ủy phụ trách. Với chủ trương này, thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn có cả ba thứ quân: chủ lực là trung đoàn Phạm Hồng Thái, bộ đội địa phương là các Ban công tác và Tự vệ Thành biên chế lại thành các đại đội du kích và dân quân các quận, (đang được củng cố và tổ chức)
Bảy Ban công tác Thành được đặt danh hiệu từ đại đội du kích số 1 đến đại đội du kích số 7.
b) Chuyển 15 khu và đội Tự vệ Thành thành ba đại đội du kích
Cùng với quyết định chuyển các đội tự vệ thành lực lượng vũ trang trực thuộc chính quyền địa phương, Thành ủy và Ủy ban kháng chiến hành chính Sài Gòn - Chợ Lớn tiến hành biên chế lại lực lượng này. 15 khu đội và đội Tự vệ Thành được biên chế thành ba đại đội du kích.
Mỗi đại đội gồm năm trung đội, trong đó có tính đến địa bàn hoạt động gần nhau. Ba đại đội này đánh số hiệu từ đại đội số 8, số 9 đến số 10. Lúc này toàn thành phố đã có 10 đại đội du kích.
Nhằm kiện toàn tổ chức các đơn vị được chặt chẽ và không ảnh hưởng đến chiến đấu, Ban chỉ huy Tự vệ Thành đề nghị tạm thời giữ nguyên thành phần ban chỉ huy cũ nhưng đổi tên là Ban chỉ huy Liên đại đội du kích 8, 9, 10. Ban này sẽ giải thể sau khi hoàn thành việc phiên chế các đại đội. Trong lúc đang chấn chỉnh biên chế, tổ chức thì hai đồng chí chỉ huy phó: Hoàng Trọng Khải và Nguyễn Hoài Nam lần lượt hy sinh. Ủy ban kháng chiến hành chính Sài Gòn - Chợ Lớn chấp thuận đề nghị của đơn vị bổ sung đồng chí Đỗ Tân (đang phụ trách ban chính trị) vào Ban chỉ huy Liên đại đội du kích 8, 9, 10, giữ chức chính trị viên.
Chỉ huy các đại đội được sắp xếp như sau:
* Đại đội 8: Đại đội trưởng: Đào Văn Thực Đại đội phó: Đặng Đức Hào Chính trị viên: Hoàng Hữu Phúc.
* Đại đội 9: Đại đội trưởng: Đoàn Cát Đại đội phó Huỳnh Quang Tân, Như Thơ (Nguyễn Văn Thêu, Ba Thêu) Chính trị viên: Lý Kỳ Nam.
* Đại đội 10: Đại đội trưởng: Nguyễn Văn Nam (Nguyễn Danh Khôi). Đại đội phó: Huỳnh Văn Khai (Hoàng Hồng Các). Chính trị viên: Đỗ Văn Hanh. | |
Logged
| Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế |
|
|
quansuvn | 
| Tự vệ thành Sài Gòn-Chợ Lớn những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp« Trả lời #5 vào lúc: 29 Tháng Ba, 2021, 03:37:17 pm » | c) Tổ chức Ban 200/CT và Ban chỉ huy 10 Ban công tác thành Sài Gòn - Chợ Lớn
Khi Tự vệ Thành hoàn thành cơ bản việc xây đựng Liên đại đội du kích 8, 9, 10, chuẩn bị mọi mặt cho ba đại đội 8, 9, 10 tách khỏi liên đại đội, thì nảy sinh tình trạng: việc tổ chức các Ban công tác thành các đại đội du kích đã đưa đến một tâm lý không ổn định, ảnh hưởng đến tác chiến, gây bất lợi cho phong trào ở nội thành. Chủ động nắm bắt tình hình, Ban chỉ huy các ban công tác đề nghị cấp trên cho lấy lại danh hiệu cũ. Trước yêu cầu bức xúc của các đơn vị, tháng 4 năm 1948, Khu bộ trưởng Khu 7 Nguyễn Bình ra quyết định: 10 đại đội du kích Sài Gòn - Chợ Lớn lấy lại tên 10 ban công tác như cũ, đặt dưới sự chỉ huy thống nhất của một ban gọi là "Ban 200/CT" do Khu bộ Khu 7 trực tiếp chỉ huy. Với quyết định này, 10 đại đội du kích không nằm trong hệ thống của thành đội dân quân Sài Gòn - Chợ Lớn. Chủ trương này đã ổn định được tâm lý cho các Ban công tác thành nhưng chưa phù hợp với chủ trương thành lập lực lượng vũ trang địa phương đặt dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương. Sài Gòn - Chợ Lớn vẫn chưa có lực lượng vũ trang địa phương. Ban chỉ huy 200/CT gồm 10 trưởng ban công tác (tức 10 đại đội trưởng các đại đội du kích đã được phiên chế trước đó), họp cùng một Tổng thư ký, hình thành một ban chỉ huy chung, lấy tên là Ban thường vụ 200/CT. Đồng chí Nguyễn Tứ Phương được chỉ định làm Tổng thư ký. Bên cạnh Ban thường vụ 200/CT có một ủy viên kiểm soát là đồng chí Phạm Ngọc Thảo - trưởng phòng mật vụ Nam Bộ và một ủy viên chính trị là đồng chí Phạm Tuân.
Là người luôn quan tâm đến phong trào đấu tranh vũ trang ở đô thị, tháng 10 năm 1948, trước khi về công tác tại Bộ tự lệnh Nam Bộ, đồng chí Nguyễn Bình đã nghiên cứu đề ra các giải pháp về vấn đề tổ chức, chỉ huy các lực lượng công tác của Sài Gòn - Chợ Lớn.
Trên cương vị là Khu trưởng Khu 7, đồng chí Nguyễn Bình đã cùng đồng chí Huỳnh Văn Nghệ - Tư lệnh phó (sau này là Khu trưởng Khu 7) tổ chức một cuộc hội nghị gồm toàn thể Ban thường vụ 200/CT để thông báo một số nội dung về tổ chức chỉ huy các lực lượng công tác thành Sài Gòn - Chợ Lớn cụ thể:
* Giải thể ban 200/CT và Ban thường vụ 200/CT.
* Thành lập Ban chỉ huy 10 Ban công tác thành Sài Gòn - Chợ Lớn.
* Chỉ định Ban chỉ huy 10 Ban công tác thành, gồm các đồng chí: Nguyễn Văn Công trung đoàn trưởng trung đoàn 306 kiêm chỉ huy trưởng 10 Ban công tác thành, Nguyễn Tứ Phương chính trị viên. Ban chỉ huy 10 Ban công tác đặt dưới sự chỉ huy trực tiếp của Bộ Tư lệnh Khu 7.
Với quyết định này, lực lượng vũ trang, tự vệ Sài Gòn - Chợ Lớn đã thống nhất về chỉ huy, nhưng Thành ủy và Ủy ban kháng chiến hành chính vẫn chưa có lực lượng vũ trang địa phương trực tiếp của mình.
d) Rút gọn tổ chức các Ban công tác thành
Đầu năm 1949, nhằm tổ chức gọn và tăng cường khả năng chiến đấu, 10 Ban công tác thành được biên chế lại thành năm ban:
- Ban công tác số 16 gồm Ban công tác 1 và 6. - Ban công tác số 17 gồm Ban công tác 7 và 9. - Ban công tác số 18 gồm Ban công tác 8 và 10. - Ban công tác số 19 gồm Ban công tác 2, 3 và 5. - Ban công tác số 20 gồm Ban công tác 4 và 145.
Đến tháng 9 năm 1949, do yêu cầu tiếp tục tập trung lực lượng chiến đấu, năm ban công tác trên lại được biên chế thành ba ban công tác: 18, 19 và 20.
e) Thành lập Tiểu đoàn Quyết tử 950
Thất bại trong chủ trương chiến lược "đánh nhanh, thắng nhanh", từ cuối năm 1949, thực dân Pháp ráo riết thực hiện chủ trương: "Lấy chiến tranh nuôi chiến tranh", "Dùng người Việt trị người Việt". Trên bình diện cả nước, thế trận chiến tranh nhân dân nhằm đánh bại âm mưu thâm độc của kẻ thù đang được phát triển thêm một bước mới. Lực lượng vũ trang ba thứ quân phát triển nhanh chóng.
Ở Sài Gòn - Chợ Lớn, Bộ Tư lệnh khu Sài Gòn lúc đó do đồng chí Trần Văn Trà - Tư lệnh kiêm Chính ủy, quyết định thống nhất các Ban công tác thành thành Tiểu đoàn Quyết tử 950.
Ngày 19 tháng 12 năm 1949, lễ thành lập Tiểu đoàn Quyết tử được tổ chức trọng thể tại khu Vườn Xoài thuộc Mỹ Thạnh Đông, Bình Hòa Nam (hữu ngạn sông Vàm Cỏ Đông). Ban chỉ huy tiểu đoàn khi mới thành lập gồm: tiểu đoàn phó Lý Quốc Oai (tức Nguyễn Xuân Thanh) và chính trị viên Lê Bôi (tức Nguyễn Ngọc Lộc).
Trên cơ sở ba ban công tác số 18, 19, và 20, tiểu đoàn biên chế thành ba đơn vị: 3018, 3019, 3020 và một đội biệt động vũ trang. Mỗi đơn vị tương đương một đại đội.
Một tháng sau, các đơn vị được tổ chức lại:
* Đơn vị 3018 hợp nhất các ban công tác số 1, 6, 8, 10 thành đại đội 3927, do đồng chí Thanh Bần (tức Thanh Sơn) nguyên Phó ban công tác 18 làm đại đội phó, đồng chí Võ Thái làm chính trị viên.
* Đơn vị 3019 hợp nhất các ban công tác 2,3, 5 thành đại đội 3721, do đồng chí Nguyễn Huỳnh (tức Ba Cự) làm đại đội trưởng, đồng chí Nguyễn Trung Hiến (tức Hiến Địa) làm chính trị viên, sau đó là đồng chí Trần Thanh Ý (tức Trần Thanh Đạt).
* Đơn vị 3020 hợp nhất các ban Công tác số 4, 7, 9 và 145 thành đại đội 3824 do đồng chí Bùi Việt Hương (tức Đức Hy Sinh) làm đại đội trưởng, đồng chí Trần Anh Linh (tức Trần Đình Hà) làm chính trị viên.
* Đại đội biệt động vũ trang có khoảng 30 chiến sĩ chọn từ các ban công tác thành được trang bị các loại súng đại liên, súng cối, phóng lựu... do đồng chí Phùng Minh Ký (tức Bảy Rể) làm chỉ huy trưởng, đồng chí Hoàng Thắng làm chính trị viên. Khi ở căn cứ, nhiệm vụ của đội biệt động là chống địch càn quét; khi phối hợp với lực lượng vũ trang nội thành thì đảm trách đánh thọc vào vùng ven đô để hỗ trợ cho các ban công tác thành hoạt động ở các hướng bàn đạp.
Về tổ chức, chỉ trong thời gian hơn ba năm, nhưng lực lượng Tự vệ Thành đã có nhiều biến đổi. Những biến đổi đó một mặt xuất phát từ tình hình thực tế địa bàn Sài Gòn - Chợ Lớn, mặt khác cũng nằm trong xu thế phát triển chung về tổ chức lực lượng vũ trang Nam Bộ trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Từ khi thành lập đến hết năm 1948, khởi đầu là 15 khu, đội tự vệ, sau đổi tên là Liên đại đội du kích số 8, số 9 và số 10, tiếp đó là ba Ban công tác số 8, số 9 và số 10. Dù mang tên nào thì thành phần cán bộ chỉ huy chung, cán bộ chỉ huy đơn vị cơ sở và các chiến sĩ vẫn là lực lượng Tự vệ Thành.
* Đầu năm 1949, năm ban công tác hình thành thì Ban công tác 18 gồm hai Ban công tác số 8 và số 10, cán bộ chỉ huy và chiến sĩ hoàn toàn là lực lượng Tự vệ Thành.
Ban công tác số 17 gồm hai ban công tác số 7 và số 9 với thành phần cán bộ chỉ huy và chiến sĩ đã được mở rộng, riêng Ban công tác số 9 là lực lượng Tự vệ Thành.
* Ngày 19 tháng 12 năm 1949, thành lập tiểu đoàn Quyết Tử với ba đại đội 3721, 3824,3927, thì Ban công tác số 8, số 10 nguyên là lực lượng Tự vệ Thành cùng với Ban công tác số 1 và số 6 trở thành đại đội 3927. Ban công tác số 9 nguyên là lực lượng Tự vệ Thành cùng với các ban công tác số 145, số 4, số 7 trở thành đại đội 3824.
Từ đầu năm 1949, lực lượng Tự vệ Thành có sự thay đổi về tổ chức cũng như cơ cấu lực lượng, về tổ chức chung là tiểu đoàn Quyết Tử trực thuộc Ban chỉ huy quân sự Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn. Do nhiều lần thay đổi về tổ chức, nên tên gọi, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy cũng như những hoạt động cụ thể cũng có nhiều biến động. | |
|
|