Tô Hiệu
Câu chuyện về Tô Hiệu
Tô Hiệu, sinh năm 1912 tại làng Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, là một trong những chiến sĩ cách mạng tiêu biểu của thời kỳ tiền khởi nghĩa. Dù tuổi đời còn rất trẻ, ông đã đảm nhiệm nhiều trọng trách quan trọng của Đảng như Ủy viên Ban Thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ, Bí thư khu B, Bí thư Thành ủy Hải Phòng.
Cuộc đời hoạt động cách mạng của ông là một bản hùng ca về lòng yêu nước, kiên trung và bất khuất. Một thời hoa lửa của Tô Hiệu được thể hiện rõ nhất qua những trang tư liệu sau:
Năm 1930, ông vào Sài Gòn hoạt động yêu nước cùng anh ruột là Tô Chấn, một lãnh tụ của Việt Nam Quốc dân Đảng. Năm 1930, ông bị bắt và bị kết án 4 năm tù, đày đi Côn Đảo. Tại đây ông được giác ngộ chủ nghĩa cộng sản, được kết nạp Đảng và được bồi dưỡng trở thành một đảng viên trẻ nhiều triển vọng.
Năm 1934, Tô Hiệu mãn hạn tù. Không chịu sự quản thúc của chính quyền thực dân ở địa phương, ông vẫn tích cực hăng hái hoạt động, chắp nối xây dựng các cơ sở cách mạng, đẩy mạnh phong trào yêu nước ở các địa phương như Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên và tại quê hương. Đặc biệt, năm 1937, ông cùng với các đồng chí trung kiên khác vận động tổ chức khôi phục lại Xứ ủy Bắc Kỳ và được cử vào Ban Thường vụ, phụ trách công tác tổ chức và tuyên truyền.
Đầu năm 1939, Tô Hiệu được phân công làm Bí thư khu B (bao gồm các tỉnh Duyên hải Bắc Bộ và Hải Dương, Hưng Yên), đặc trách Bí thư Thành ủy Hải Phòng. Tại Hải Phòng, Tô Hiệu đã đưa phong trào lên rất cao, số lượng các cuộc bãi công của bảy tháng năm 1939 lớn hơn tổng số cuộc bãi công của ba năm trước, trong đó có cuộc bãi công của 3000 công nhân nhà máy tơ được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc báo các Quốc tế Cộng sản là cuộc đấu tranh có kỷ luật, có tổ chức cao. Tại đây ông đã có công bồi dưỡng, phát hiện đào tạo nhiều thanh niên Cách mạng trở thành Đảng viên và sau này là những cán bộ quan trọng của Đảng như nguyên Thường trực Ban Bí thư Nguyễn Thanh Bình, Bí thư phụ nữ đầu tiên Hoàng Ngân, Bộ trưởng Lương thực Thực phẩm Ngô Minh Loan, Phó Chủ tịch tổng Công đoàn Trương Thị Mỹ, Phó Tổng Tham mưu trưởng Đặng Kinh, Trưởng phòng Tình báo đầu tiên Đào Phúc Lộc,…
Ngày 1 tháng 12 năm 1939, Tô Hiệu bị bắt và bị thực dân Pháp kết án 5 năm tù, đày đi Sơn La. Tại đây, với cương vị Bí thư chi bộ nhà tù, ông đã cùng Chi ủy lãnh đạo phong trào đấu tranh, biến nhà tù thành trường học Cách mạng, đào tạo được hàng trăm cán bộ cốt cán cho Đảng phục vụ kịp thời cho Cách mạng tháng Tám.
Ông mất ngày 7 tháng 3 năm 1944 tại nhà tù Sơn La do chế độ hà khắc của nhà tù và bị lao phổi. Mộ ông được an táng tại nghĩa trang liệt sỹ nhà tù Sơn La.
Ông được vinh danh ở kết luận 88 của Bộ Chính trị do Thường trực Ban Bí thư Lê Hồng Anh ký ngày 14 tháng 2 năm 2014, đã đưa Tô Hiệu vào danh sách “Lãnh đạo tiền bối tiêu biểu của Đảng và Cách mạng Việt Nam”
Từ những dòng tư liệu ấy có thể thấy cuộc đời Tô Hiệu là một hành trình đầy thử thách nhưng cũng vô cùng rực rỡ. Từ nhà tù Côn Đảo đến Sơn La, từ những ngày bị tra tấn đến những tháng ngày cận kề cái chết, ông vẫn một lòng kiên định với lý tưởng cách mạng. Tô Hiệu không chỉ chiến đấu bằng nghị lực và trí tuệ, mà còn bằng một trái tim trong sáng và cháy bỏng niềm tin vào ngày độc lập.
Tô Hiệu ra đi khi mới 32 tuổi, nhưng tên tuổi và tinh thần của ông mãi sống cùng dân tộc.
Ông là biểu tượng bất diệt của lòng dũng cảm, của ý chí sắt đá, của sự hy sinh cao đẹp vì Tổ quốc. Một đời người ngắn ngủi nhưng để lại dấu ấn vĩnh hằng — đó chính là vẻ đẹp nổi bật của Tô Hiệu, người chiến sĩ cộng sản kiên trung của quê hương Hưng Yên.



