Tô Văn Đực - người anh hùng chế tạo vũ khí trong lòng đất thép Củ Chi
Tô Văn Đực - người anh hùng chế tạo vũ khí trong lòng đất thép Củ Chi
Sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo, cha mẹ mất khi Tô Văn Đực mới 8 tuổi, thời thơ ấu của cậu bé gắn với những ngày chăn trâu, cắt cỏ, làm thuê, rồi theo anh trai đi cạo mủ cao su cho chủ đồn điền để kiếm miếng ăn qua ngày. Chính hoàn cảnh khó khăn và môi trường cách mạng sôi động ở vùng đất Củ Chi đầu những năm 1960 đã sớm hun đúc trong chàng thiếu niên tinh thần yêu nước, ý chí tham gia kháng chiến.
Năm 1960, vừa tròn 18 tuổi, khi đang làm thuê cho chủ đồn điền cao su ở Thủ Đức (Sài Gòn - Gia Định), chàng thanh niên Tô Văn Đực được cán bộ cách mạng vận động, đã tình nguyện gia nhập lực lượng du kích xã Nhuận Đức. “Thời điểm ấy, thanh niên ở vùng giải phóng ai cũng muốn đi đánh giặc, lập công”, người anh hùng nhớ lại.
Những ngày đầu, chiến sĩ du kích Tô Văn Đực được giao nhiệm vụ tải đạn, tải thương, rồi tham gia đào địa đạo. Hệ thống địa đạo Củ Chi khi ấy không chỉ là nơi trú ẩn, mà còn là “xương sống” của cuộc chiến tranh nhân dân. Ông cho hay, với lòng căm thù giặc sâu sắc, người dân từ lớn đến nhỏ đều biết đào địa đạo, ai cũng góp sức cho cách mạng, chỉ mong sớm đánh đuổi được giặc Mỹ xâm lược.
Hai năm gắn bó với công việc đào địa đạo đã giúp chàng thanh niên tuổi đôi mươi Tô Văn Đực rèn luyện sức chịu đựng, sự tỉ mỉ, đồng thời tích lũy những hiểu biết thực tế về địa hình, cấu trúc đất, những yếu tố sau này góp phần quan trọng vào việc chế tạo và bố trí vũ khí. Năm 1962, Tô Văn Đực nhập ngũ, được điều vào xưởng sản xuất vũ khí thô sơ của Huyện đội Củ Chi. Đây cũng chính là bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời chiến đấu của Anh hùng Tô Văn Đực.Không qua đào tạo bài bản, chỉ biết đọc, biết viết, chàng thanh niên Tô Văn Đực học nghề bằng cách quan sát các chú, các anh làm việc, ghi nhớ và thực hành. “Có lần, tôi năn nỉ mượn một người anh khẩu súng Col, đạn 12 ly của Mỹ. Mang về xưởng, tôi tháo hết các bộ phận súng ra đặt trên bản vẽ. Trình độ vẽ kỹ thuật không có, tôi đành để cây súng trên nền giấy trắng. Bộ phận nào giống chữ A thì tôi vẽ chữ a, giống như B thì tôi vẽ chữ b, ghi nhớ nằm lòng từng chi tiết trong đầu. Làm được cây súng mô phỏng loại súng này không đơn giản bởi bộ phận cò nổ của súng Mỹ là tự động, bắn một viên là lên luôn viên khác. Tôi ít học, ban đầu mày mò thực tế rất khó, cả tháng trời mới ráp xong được một chiếc súng”, ông Đực nhớ lại.
Làm mãi thành quen, chiến sĩ quân giới Tô Văn Đực đã cùng đồng đội chế tạo được nhiều loại súng phục vụ du kích, như: Súng trường, súng ngắn, trong đó có việc cải tiến súng K54 từ 8 viên lên 14 viên, phù hợp với các loại đạn thu gom trên chiến trường. Trong khoảng hai năm, ông trực tiếp tham gia chế tạo 21 khẩu súng trường, 19 khẩu súng ngắn và một khẩu tiểu liên.
Tuy nhiên, bước ngoặt lớn nhất đến vào năm 1966, khi đế quốc Mỹ và quân ngụy tăng cường đưa xe tăng, xe bọc thép vào càn quét khu vực Củ Chi. Trong điều kiện thiếu thốn vũ khí chống tăng, lực lượng du kích gặp nhiều khó khăn. Ông Đực hồi tưởng: “Thời đó du kích địa phương không có súng B40, B41, đại liên, trung liên gì cả, mà vũ khí chủ yếu là súng thô sơ, lựu đạn..., trong khi phải đối đầu với xe tăng M113, M114, M41, xe bọc thép và vũ khí hiện đại của quân thù. Tôi trăn trở, phải làm cách nào đó để đánh được xe tăng”.



