Tô Văn Đực - Người con Đất Thép

Tô Văn Đực sinh năm 1942, quê ở ấp Xóm Bưng, xã Nhuận Đức, được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân 1967, có bí danh “Út Đực” và khi hoạt động cách mạng phía Nam còn sử dụng bí danh “Mười Đức”. Xuất thân nông dân, gia đình đông con (ông là con út trong gia đình 10 người). Ông Tô Văn Đực, Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân, không chỉ là người trực tiếp chế tạo và sử dụng các loại mìn chống xe tăng nổi tiếng trong cuộc kháng chiến mà còn là nhân chứng sống của một giai đoạn lịch sử đầy máu lửa ở Củ Chi – nơi được mệnh danh là “đất thép thành đồng”.
Củ Chi (trước khi sát nhập) đi vào lịch sử với vị trí là một địa bàn chiến lược, là căn cứ địa vững chắc của Khu ủy và Quân khu Sài Gòn - Gia Định. Nhắc đến Củ Chi là nhắc đến vùng đất thép với những con người đầy sáng tạo, ý chí sắc đá, quật cường trong cuộc chiến đấu tranh giải phòng dân tộc.
Trong cuộc chiến ác liệt ấy, bọn Mỹ - Nguỵ ngày đêm đàn áp, khủng bố nhân dân, giết hại cán bộ của Ðảng và người dân vô tội. Ngày như đêm, Bom B52 thả liên tục lên vùng đất Củ Chi, giặt càn liên tục.
Nước mắt và cả máu của người dân Củ Chi đã quyện vào lòng đất, trở thành sức mạnh quật cường, kiên quyết đấu tranh chính trị, quân sự, binh vận, tìm Mỹ mà diệt, tìm ngụy mà đánh, sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do và thống nhất nước nhà; luôn kiên cường trước mọi thử thách, gian lao, dù gian khổ hy sinh, bom rơi, đạn phá vẫn kiên trì bám trụ, bám làng chiến đấu với khẩu hiệu “Một tấc không đi, một ly không rời”, là biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, thể hiện khí phách hào hùng với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” làm cho quân thù khiếp đảm khi mỗi lần đặt chân tới nơi này.
Chất thép từ mảnh đất ấy đã hun đúc nên biết bao người con ưu tú trong đó không thể nào không kể đến Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Tô Văn Đực Dũng sĩ diệt xe tăng với biệt danh "Anh hùng mìn gạt" của quân đội nhân dân Việt Nam.
Ông sinh năm 1942, là con út trong một gia đình nông dân nghèo tại xã Nhuận Đức huyện Củ Chi. Tháng 2 năm 1962, Ông tham gia vào đội ngũ dân quân du kích xã Nhuận Đức khi chỉ mới 20 tuổi. Ông được phân công phụ trách công trường sửa chữa vũ khí hỏng trong chiến tranh.
Quan sát thấy sự chống trả không cân sức của du kích Củ Chi với quân địch, ông đã nghiên cứu, cùng đồng đội nhặt những mảnh sắt cũ bằng bàn tay và cái lò rèn, ông đã làm nên nòng súng, thân súng rồi các bộ phận khác nữa. Bản thân chỉ mới học hết lớp 1 nên bản vẽ thì ông không rành lắm, tất cả phải tự hình dung ra để làm. Nhưng với sự sáng tạo, quyết tâm và cố gắng không ngừng nghỉ ông và đồng đội trong một tháng đã chế tạo và hoàn thành khẩu súng trường cho du kích chiến đáu…Súng ngựa trời bắn tầm gần được ông cải tiến cự li bắn tầm xa, khẩu súng K54 cho cán bộ cũng được ông nâng cấp đạn từ 8 lên 14 viên.
Đến năm 1966, Mỹ tiến hành càn quét trên diện rộng dưới sự yểm trợ của xe tăng, máy bay, phi pháo hạng nặng với âm mưu tiêu diệt quân chủ lực của ta, dồn dân lập ấp chiến lược, cố tạo thế đi mới trên bàn cờ chiến lược quân sự.
Lúc ấy, ông được anh Tám Thạnh đưa cho 2 quả mìn cán. Ông đặt ngay lỗ châu mai, cách ông khoảng 50m, xe tăng địch đi ngang cán trúng mìn sẽ nổ gây hư hỏng và không di chuyển được nữa. Thấy được tính năng của mìn có thể bẻ được cuộc càn của xe tăng, ngay lập tức, ông cùng đồng đội bắt tay vào sản xuất mìn cán nhằm chặn bước tiến của xe tăng địch.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Thế nhưng mìn cán có một hạn chế đó là xe tăng phải cán trúng thì mìn mới nổ. Cho nên anh hùng Tô Văn Đực tiếp tục nghiên cứu và chế ra loại mìn gạt – đảm bảo hiệu quả hơn mìn cán vì nó có thêm thanh gạt, bất cứ bộ phận nào của xe tăng đụng trúng thanh gạt là mìn phát nổ ngay.
Trong một trận càn của Mỹ, khi xe tăng địch tiến vào cán lên thanh gạt làm mìn nổ xe tăng cũng nổ tung, trực thăng sà xuống lấy xác thì đụng phải những quả mìn gạt được gài ngửa trên cây khiến trực thăng cũng tan xác. Với sức công phá của mìn gạt đào sâu 1mét và bán kính 3 mét, không xe tăng nào chịu nổi. Sáng chế của ông được đưa vào sử dụng rộng rãi trên chiến trường mang lại hiệu quả cao trong việc tiêu diệt xe tăng địch. Riêng ông Tô Văn Đực đã tiêu diệt được 53 lính Mĩ và phá hủy 13 chiếc xe bọc thép.
Với những chiến tích từ sáng tạo của mình ngày 17/9/1967 ông được nữ tướng Nguyễn Thị Định trao danh hiệu AHLLVTND. Ông chính là biểu tượng chiến thắng của vùng Đất thép Củ Chi trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước.
Giờ đây khi đã gác lại việc nhà binh ông về lại xã Nhuận Đức lập trang trại sống vui vầy bên con cháu.
Qua tấm gương và những chiến công của AHLLVTND Tô Văn Đực giúp tôi khao khát hơn về sự sống. Sống là phải chiến đấu và lao động. Như trong bản trường ca “Những người đi tới biển” của nhà thơ Thanh Thảo có viết:
“Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình
Tuổi hai mươi làm sao không tiếc
Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc”.
Sẽ không có thế lực nào mạnh hơn bằng sức mạnh của sự đoàn kết, sự can đảm dám nghĩ dám làm, dám hy sinh vì sự nghiệp đấu tranh cách mạng, giải phóng đất nước. Đem lại niềm vui và hạnh phúc cho nhân dân. Giờ đây Củ Chi đã thay mầu áo mới. Mặt đất lành lặn, vết tích chiến tranh đã lùi sâu vào quá khứ. Thế nhưng vẫn còn đâu đó những nổi lo âu, khắc khoải cho những nổi đau thương mất mát mà chiến tranh để lại. Những mất mát, hy sinh đó được xem là kỳ tích và sẽ không bao giờ được lãng quên.
Và hơn thế nữa, là một người con của quê hương Củ Chi Đất Thép Thành Đồng, là thế hệ thanh niên thời đại mới tôi nghĩ mình cần phải phấn đấu rèn luyện bản thân nhiều hơn nữa để có thể phát huy tinh thần năng động, sáng tạo chung tay cùng với thế hệ trẻ góp phần xây dựng quê hương đất nước giàu đẹp.



