Tôi có cơ hội được chiến đấu trên mảnh đất quê hương vùng Kinh Bắc (Bắc Ninh).
Đoạn trích là những dòng ký ức xúc động và tự hào của một người con Kinh Bắc - chiến sĩ Trung đoàn 174 - trong chuyến trở về chiến đấu tại quê hương vào mùa đông năm 1951. Giữa bối cảnh vùng địch hậu bị o ép, tác giả đã trải qua những cung bậc cảm xúc đối lập: từ nỗi đau riêng khi hay tin mẹ mất, nỗi buồn chung khi trận đầu (Phố Mới) chưa thắng lợi, đến niềm vui vỡ òa với chiến thắng Trạm Trai vang dội đêm 28 Tết Nhâm Thìn. Qua những trận đánh mưu trí nhờ sự đùm bọc của nhân dân và sự quả cảm củ
Tôi sinh ra và lớn lên trên vùng quê Kinh Bắc, tại làng Thị Cầu, tổng Đỗ Xá, huyện Võ Giàng, tỉnh Bắc Ninh. Thời niên thiếu, tôi hay leo núi, tha thẩn đi bắt dế mèn, hái sim mua ở các núi Chu, núi Đèo, núi Dinh.
Tục truyền núi Dinh làng tôi xưa kia là nơi đặt bản doanh của quân tướng nhà Lý chống lại quân Tống.
Tại đây năm 1077, vào đêm chuẩn bị phản công quân Quách Quỳ ở bờ nam sông Như Nguyệt (sông Cầu) đã vang lên bài thơ Nam Quốc Sơn Hà Nam Đế Cư của Lý Thường Kiệt. Xa quê đã 7 năm (1945-1951), mãi đến 12/1951 cùng Trung đoàn 174 tôi mới được trở về quê, vào sâu trong lòng địch, phá bình định, phát triển du kích chiến tranh, mở rộng căn cứ du kích vùng sau lưng địch tại Bắc phần và Nam phần Bắc Ninh.
Tôi được tham gia chiến đấu cùng người dân và dân quân du kích quê tôi gần 2 tháng ở Bắc và Nam phần (15/12 - 26/2/1951). Người dân quê tôi ở vùng địch hậu bị địch o ép khống chế thành lập các làng tề, ban đêm phải kéo đèn treo cao ở 4 góc làng, phải đánh mõ thổi tù và để báo động, nhưng trong lòng vẫn theo Đảng, theo Bác Hồ.
Đêm 17/12 trung đoàn 174 khi vượt qua đường 18 (Bắc Ninh đi Phả Lại) để vào trú quân ở bắc sông Đuống (xã Chi Lăng và Hưng Đạo), bộ phận đi sau của trung đoàn gặp xe tuần tiễu địch. Một bộ phận lạc đường, đi nhầm vào các làng tề. Chiến sĩ ta chưa quen hoạt động ở đồng bằng, không dám tiến sang phải hay sang trái, cứ tản ra giữa cánh đồng trống trải trong đêm tối, dùng ám hiệu tín hiệu tìm nhau. Được các tổ du kích địa phương đi tìm kiếm, những bộ phận đi lạc đường cũng về được vị trí trú quân trước khi trời hửng sáng.
Đêm 22/12, trung đoàn 174 sử dụng tiểu đoàn 255 đánh Phố Mới không thành công. Ta bị 3 trận địa pháo địch: ở Bắc Ninh, Phả Lại và núi Pháo đài Đáp Cầu bắn vào đội hình bị thương vong, không dứt điểm được.
Để chuẩn bị đánh Phố Mới lần thứ 2 (30/12/1951), ta phải tổ chức một trận địa cối 82 ly (6K) nhờ du kích dẫn đường vào sát làng Dủi (chợ Nội Doi) ngay nam Đáp Cầu bắn kiềm chế riêng trận địa pháo địch đặt ngay trên núi Pháo đài Đáp Cầu. Là tham mưu phó trung đoàn, lại là người địa phương, tôi cùng đại đội trưởng cối 82 ly theo du kích dẫn đường, ăn mặc quần áo nâu giả đi thăm đồng ven chân núi nhà thờ Rousselet - ven cánh đồng làng Thị Cầu quê tôi vào làng Dủi. Chúng tôi đi tìm trận địa xong, có phiên chợ nên vào chợ mua bán mấy mớ rau cỏ cầm tay coi như chợ về. Gặp người làng đi chợ - tôi được biết tin tức về gia đình - Mẹ tôi đã chết từ 5/1950 – Bố tôi theo em gái về quê vùng tề để sinh sống.
Thế là vào trận Phố Mới lần 2, trung đoàn lại không thành công. Tôi có hai nỗi buồn: đơn vị về chiến đấu tại quê hương mình, trận đầu không thắng lợi, và được tin người mẹ sinh ra mình đã mất.
Đêm 23/1/1952, trung đoàn cho 2 tiểu đoàn 249 và 255 bí mật vượt sông Thái Bình sang hoạt động ở Nam Sách, phối hợp với tiểu đoàn địa phương Bạch Đằng (Quảng Yên) trong một đêm 174 diệt 2 vị trí An Dật và Vạn Tải - diệt bốt quận lỵ (bốt Si), hỗ trợ cho bộ đội địa phương huyện diệt 23 bốt, tháp canh, giải phóng 2/3 huyện Nam Sách. Người dân nam phần Bắc Ninh quê tôi (khu vực Văn Thai - Kênh Vàng) đã chở các đơn vị của trung đoàn 174 vượt sông Thái Bình gió cả sóng lớn. Sau đó lại trở về nam phần Bắc Ninh trước khi trời sáng rõ.
Trong khi 2 tiểu đoàn 249 và 255 sang Nam Sách thì tiểu đoàn 251 nhận nhiệm vụ đánh đồn Trạm Trai (huyện lỵ Thuận Thành). Đây là vị trí do bọn bảo chính đoàn đóng giữ, lực lượng có 2 trung đội, cách 200m có một bốt nhỏ do bảo an đóng giữ. Tiểu đoàn 251 do thời gian điều tra ngắn chỉ nắm được ngoại vi, trong tung thâm địch bố trí như thế nào, ta không nắm được. Theo lệnh Đại đoàn, cần phối hợp chặt chẽ với mặt trận chính ở Hòa Bình vào dịp Tết Nhâm Thìn (1952), phải tiêu diệt đồn Trạm Trai trước 1 Tết. Hôm duyệt kế hoạch, tiểu đoàn trưởng Đinh Hồng Vũ (d251) ngại ngần chưa biểu lộ quyết tâm. Chính ủy đại đoàn 316 Chu Huy Mân chỉ huy bộ phận nhẹ đại đoàn xuống dự chỉ thị cho trung đoàn phải giúp đỡ tiểu đoàn 251 có đủ yếu tố chắc thắng, đừng để như trận Phố Mới.
Trung đoàn trưởng Đặng Văn Việt quay sang tôi chỉ thị: Ban tham mưu trung đoàn phải cung cấp bản sơ đồ vẽ tung thâm đồn Trạm Trai. Tham mưu phó Nguyễn Văn Khiếu cùng trung đội trưởng trinh sát Lý Long Quân do chị Nguyễn Thị Vân, nữ chỉ huy du kích Bùi Xá, ăn mặc cải trang thành người dân mang lễ vật đã vào nhà tên Chánh tổng Bảo An (một nhân mối của du kích Bùi Xá) đi điều tra tung thâm đồn Trạm Trai.
Sau khi thuyết phục được tên Chánh tổng, hai người (Khiêu và Quân) đã leo được lên "Lô cốt" Bảo An nhìn vào tung thâm đồn Trạm Trai, vẽ sơ đồ và nghiên cứu cách đánh.
Trung đội trưởng Lý Long Quân chỉ biết vẽ sơ đồ. Tham mưu phó phải vẽ một tả cảnh đồ bổ sung. Nhìn vào cảnh đồ vẽ, ta hình dung thấy rõ đồn hình chữ nhật: một lô cốt chính cao xây giữa là nơi đặt cơ quan chỉ huy và một vọng gác để bố trí trung liên quét vòng tròn và ra đường cửa đồn.
4 lô cốt ở 4 góc, cổng ra vào đi thẳng vào lô cốt mẹ.
Phương án của tiểu đoàn đột phá vào lô cốt tây bắc. Tại sao không chấp nhận ý kiến của pháo binh đặt 2 khẩu pháo bắn vào lô cốt mẹ, xung kích đột phá vào theo đường cái theo cổng chính. Chiếm được lô cốt to, chiếm chỉ huy sở, sau đó từ giữa đồn tỏa ra chiếm các lô cốt ở 4 góc. Vừa nhanh vừa đỡ thương vong. Thời đó chúng tôi gọi cách đánh này là chiến thuật "nở hoa trong lòng địch".
Đó là phương án do tham mưu của trung đoàn đề đạt, được trung đoàn trưởng chấp nhận.
Đêm 26/1/1952 (tức 28 tháng Chạp Nhâm Thìn), sau 28 phút chiến đấu, ta đã tiêu diệt đồn Trạm Trai. Ta chỉ bị thương có 2 đồng chí, diệt và bắt sống 55 tên địch, thu toàn bộ vũ khí. Ta thu được hai nồi bánh chưng đang luộc dở (60 chiếc), hai con lợn đã mổ (mỗi con 60-70kg), kẹo bánh, đem về để liên hoan mừng chiến thắng vui Tết Nhâm Thìn.
Được ở trong đội hình của trung đoàn Cao Bắc Lạng, tôi đã có cơ hội về trả nghĩa với quê nhà. Bốn tháng sống, chiến đấu trong vùng địch hậu Bắc Ninh và Hải Dương (12/1951 - 3/1952) tôi càng thấy rõ bản chất và sức mạnh của chiến tranh nhân dân - càng thấm thía câu nói của đồng chí Léo Phiguère, Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Pháp qua Biên giới (Cao Bằng (4/1950) vào thăm trung đoàn 174, đã nói: Chiến tranh du kích Việt Nam nằm trong bầu sữa mẹ, được nhân dân nuôi nấng đùm bọc, không kẻ thù nào khuất phục được (Trong trận đánh Trạm Trai nhanh gọn, ít thương vong, công lớn là của nữ chỉ huy du kích làng Bùi Xá Nguyễn Thị Vân).
Trong trận chống càn Nghi An Cửu Cáp dân quân du kích đã chỉ cho bộ đội nên đánh vào sau lưng địch từ làng Thượng Vũ để phá cuộc càn (29/1/1952, tức mùng 2 Tết Nhâm Thìn).
198 thương binh của trung đoàn khi rút ra khỏi Bắc Ninh phải vượt qua đường 5 và đường sắt, đường số 18, qua sông Đuống, sông Cầu, an toàn ra vùng giải phóng, đều được dân quân du kích bảo vệ, khiêng cáng vượt an toàn từ hậu địch Bắc Ninh ra vùng tự do Bắc Giang.
55 năm đã trôi qua.
Làng Thị Cầu quê tôi - xã Song Hồ (Thuận Thành) nơi xảy ra các trận đánh ngày 28 tháng chạp Nhâm Thìn (Trạm Trai) và trận chống càn ở Đông Côi (Nghi An - Cửu Cáp) đã trở thành hai xã anh hùng thời đổi mới.


