TÔI CƯỚI VỢ
Đoạn hồi ký kể về mối duyên của tác giả – một người lính nhập ngũ năm 1954 – sau nhiều năm xa nhà học tập, công tác. Khi về phép năm 1960, do hoàn cảnh thời đó việc xây dựng gia đình phải có sự đồng ý của tổ chức, ông được bạn bè giới thiệu làm quen với người vợ sau này. Tình cảm nảy nở trong thời gian ngắn gặp lại ở Hà Nội; trước khi sang Lào làm nhiệm vụ, ông mạnh dạn viết thư hỏi cưới và được Đảng ủy đơn vị chấp thuận cho về nước tổ chức hôn lễ. Cuộc hôn nhân “nhanh gọn” ấy trở thành mái ấm b
Từ xưa đến nay theo phong tục của dân tộc Việt Nam, phàm là làm việc lớn như làm nhà, dựng vợ gả chồng đều phải chọn ngày lành tháng tốt. Tập quán này bây giờ người ta lại càng coi trọng hơn. Còn về việc cưới hỏi ở quê tôi miền núi (Định Hóa, Thái Nguyên) ngày xưa còn phải xem số hai người nam nữ có hợp nhau mới được lấy. Vì thế sau khi dạm hỏi hai bên nhà trai và nhà gái phải cung cấp ngày sinh tháng đẻ của con mình cho bên kia. Sau đó hai bên nhờ thầy xem số. Đã có những đôi nam nữ rất yêu nhau nhưng chỉ vì số không hợp nên bố mẹ hai bên không cho lấy nhau, dẫn đến chuyện đau lòng. Còn từ ngày dạm ngõ đến ngày cưới phải qua nhiều bước lắm. Nào là: dạm ngõ, ngày đưa lá số, ngày ăn hỏi v.v...
Do hoàn cảnh hơi đặc biệt tôi cưới vợ thì không xem ngày, không xem số, bỏ qua tất cả các bước dạm ngõ, ăn hỏi... Tháng 2 năm 1962 tôi là lính xe tăng đang công tác ở chiến trường nước Lào, đi máy bay từ Cánh Đồng Chum xuống sân bay Gia Lâm, đi tàu hỏa, rồi đạp xe đạp về quê báo cáo với hai gia đình. Hai hôm sau thì tổ chức cưới ngay.
Nhà gái không lấy gì của nhà trai. Bố mẹ tôi đều mất cả, tôi ở với ông anh cả, nhà anh chỉ có 1 con lợn độ 30kg hơi khiêng cho nhà gái và mấy chục bò gạo, gọi là lễ, mặc dù nhà gái không yêu cầu. Hôm trước nhà gái tổ chức cưới, hai chúng tôi ở đấy. Hôm sau nhà trai cưới, chúng tôi lại về nhà trai không có ai phù dâu, phù rể, không ai đưa, không ai đón. Hai gia đình ở cách nhau 12km, chúng tôi lai nhau trên một chiếc xe đạp cũ kỹ. Cưới xong chúng tôi lại lai nhau trên chiếc xe đạp cũ kỹ ấy về cơ quan vợ tôi làm việc (Phòng Y tế huyện Đại Từ, Thái Nguyên), cách nhà tôi 25 cây số.
Vì thời gian nghỉ phép của tôi tất cả chỉ có 15 ngày, nên sau khi cưới chúng tôi chỉ còn được ở với nhau 10 ngày. Hết hạn nghỉ phép tôi trở lại trạm tiếp đón ở sân bay Gia Lâm để sang Lào. Ngày nào trạm cũng thông báo mây mù nhiều, máy bay không bay được. Tôi nhớ vợ quá lại trốn về, vài ngày lại xuống, vẫn chưa có máy bay, tôi lại trốn lần nữa. Tôi trốn lần thứ 2 thì anh Phùng Đức Nự quân hàm trung úy (lúc đó tôi mới chuẩn úy) là cán bộ tổ chức của Bộ Tư lệnh Miền Tây gọi tôi lên mắng cho một trận. Tôi không dám trốn nữa, mặc dù rất nhớ vợ.
Chờ mãi ở trạm vẫn không có máy bay, khoảng mươi hôm sau thì cấp trên bố trí 3 chiếc Ô tô tải chở tất cả anh em đang chờ máy bay đi Lào, Ô tô theo quốc lộ số 7, loại xe mô-lô-tô-va của Liên Xô chỉ có 2 băng ghế ở hai bên, một số người được ngồi ghế, số còn lại ngồi bệt xuống sàn xe. Xe nào người cũng chật ních, đã thế đường số 7 làm từ thời Pháp thuộc, xe quân sự đi nhiều nên đường xấu lắm, người ngồi xóc tưng lên như xóc ốc. Đường nhiều chỗ cong rất gấp, vô bên này, xô bên kia, giá như bây giờ thì không chịu nổi. Nhưng lúc đó tuổi còn trẻ, sức khỏe tốt.
Anh em tuy mỗi người một đơn vị, không ai biết ai, vì số anh em này hoặc là trả phép, hoặc đi công tác rồi trở lại Lào. Nhưng chỉ lên xe một lúc là quen nhau ngay. Nói chuyện suốt dọc đường nên cũng quên mệt. Mỗi xe được phát mấy khẩu súng để tự vệ. Sang đến đất Lào thì xe đi đầu tiên bị trúng mìn. Xe đó khá nhiều anh em bị hy sinh. Chúng tôi lại phải tạm dừng sau khi mai táng anh em, chúng tôi phải ăn ở nhờ đơn vị bảo vệ đường số 7.
Sau đó Bộ Tổng tư lệnh cử công binh đi trước để dò mìn, xe chúng tôi đi sau. Về đến đơn vị vài ngày, tôi được ban chỉ huy tiểu đoàn gọi lên hỏi thăm tình hình gia đình và bắt viết kiểm điểm. Sau đó tôi bị thi hành kỷ luật khiển trách. Tôi không biết tại sao Ban chỉ huy tiểu đoàn lại biết việc tôi bỏ trốn. Sau đó được biết là đồng chí Anh (người miền Nam) ở cùng tiểu đoàn, đi công tác về nước, đến trạm thì biết việc tôi bỏ trốn về với vợ mới cưới.
Các bạn chắc chưa thể hiểu vì sao tôi lại cưới vợ một cách “cấp tập”như pháo hỏa chuẩn trong một trận đánh như thế. Thế này các bạn ạ.
Tôi nhập ngũ ngày 27-3-1954 khi đó đang học lớp 7 (phổ thông cơ sở), lúc này tôi chưa yêu ai. Vào bộ đội tôi còn trẻ. lại nay đây mai đó nên cũng chưa yêu ai. Năm 1955 thì được vào học trường Văn hóa Quân đội (gọi là D126 ở Kiến An). Thời gian học văn hóa là 2 năm, nhà trường ở vùng mới tiếp quản, lại ở trong doanh trại, không có điều kiện tiếp xúc với dân nên thời gian này tôi cũng chưa yêu ai. Năm 1957 đi sang Trung Quốc học xe tăng, đến đầu năm 1960 về nước.
Sau khi về nước chúng tôi được nghỉ phép một tháng. Anh em nào chưa có vợ thì được cấp trên cho một giấy giới thiệu với chính quyền địa phương giúp đỡ tìm vợ. Như thế là tôi đi bộ đội đã được 7 năm. Tuổi đời đã 27, thời đó 27 tuổi chưa lấy vợ đã thuộc loại muộn, tự tôi cũng hơi sốt ruột rồi. Lớp trẻ hiện nay đọc đến chỗ này thì chắc ngạc nhiên và buồn cười, vì bây giờ 27 tuổi chưa lấy vợ là chuyện bình thường. Quả thật, tôi về đến nhà thì lứa tuổi tôi đã có từ 1 đến 2 con, không còn ai chưa xây dựng gia đình.
Tôi biết có xuất trình tờ giấy giới thiệu này cũng không ăn nhằm gì. Nhưng vì sốt ruột nên cũng nuôi tia hy vọng nhỏ nhoi. Thế là đưa giấy giới thiệu đến ủy ban xã. Sau khi xem giấy, các bác ở ủy ban xã rất thông cảm, nhưng cũng bó tay. Có bạn đọc đoạn này chắc nghĩ là tôi phịa. Tại sao tìm hiểu yêu đương lại nhờ chính quyền được. Bây giờ nghe rất vô lý, ấy thế mà lại là chuyện thật trăm phần trăm. Cái ngày đó mọi việc như vậy phải được phép của cả tổ chức Đảng nữa.
Thời gian nghỉ phép, tôi đến cơ quan ủy ban huyện và Huyện ủy thăm một số anh em bạn bè thì được một số bạn bè giới thiệu tôi làm quen với nhà tôi bây giờ- Tình yêu phải có thời gian tiếp xúc lâu dài thì mới nảy sinh tình cảm. Vì mới quen biết, nên giữa hai chúng tôi chưa mặn mà gì. Vì vậy, mặc dù chưa hết phép tôi đã trở lại đơn vị.
Không biết có phải ông tơ bà nguyệt sắp đặt không mà đầu năm 1961 tôi và nhà tôi có dịp ở gần nhau một thời gian độ một tháng gì đó. Lúc đó nhà tôi đi học xét nghiệm vi trùng sốt rét ở Viện Sốt rét Trung ương - số 5 - phố Quang Trung - Hà Nội. Thật may làm sao, đúng dịp tôi được cử đến Bộ Tư lệnh Pháo binh 351 (ở phố Lý Nam Đế - Hà Nội) để nhận một số anh em chiến sĩ pháo binh hết nghĩa vụ về học pháo xe tăng.
Qua thời gian gần gũi tuy ngắn ngủi này, nhưng hai đứa chúng tôi đã có cảm tình với nhau. Cuối năm 1961, tôi được cử sang Lào để chuyển một tiểu đoàn xe tăng lội nước PT-76 Cho lực lượng trung lập Koong-le, vừa huấn luyện cho họ trước khi bàn giao, vừa sẵn sàng chiến đấu. Tiểu đoàn do đồng chí Trần Nam làm tiểu đoàn trưởng. Nhỡ phải ở Lào 2, 3 năm nữa thì việc lấy vợ chắc xa xăm lắm. Đặc biệt tôi và nhà tôi chỉ mới quen sơ sơ thôi, chưa hứa hẹn gì, làm sao bắt cô ấy chờ được. Thế là tôi mạnh dạn báo cáo cấp trên.
Đồng chí Tinh, chính trị viên tiểu đoàn nói với tôi: Cậu viết thư về hỏi thẳng cô ấy, nếu đồng ý lấy thì gửi lý lịch sang đây. Tôi làm đúng như lời đồng chí ấy. Một thời gian thì có thơ trả lời, cô ấy đồng ý xây dựng gia đình với tôi và kèm theo một bản lý lịch có xác nhận của cơ quan. Việc tôi đặt thẳng vấn đề với nhà tôi hồi ấy thật là hơi liều mạng, vì chúng tôi đã biết nhau nhiều nhặn gì đâu. Tôi không ngờ nhà tôi lúc đó lại…
Tôi đưa bức thơ và lý lịch của cô ấy cho đồng chi chính trị viên tiểu đoàn. Tôi nghe nói sau khi bàn bạc Đảng ủy và tiểu đoàn nhất trí cho tôi được xây dựng với nhà tôi và cho phép tôi về nước cưới vợ. Do đó mới có cuộc cưới vợ kiểu “pháo bắn cấp tập” và phá cả lệ làng như vậy. Đúng là cái duyên cái số.
Vợ chồng chúng tôi sống với nhau rất hạnh phúc, năm nay tôi đã 71 tuổi, vợ tôi 65 tuổi chưa hề to tiếng với nhau bao giờ. Các con tôi đều ngoan và đã trưởng thành. Tôi thấy tự hào về vai trò đảm đang của nhà tôi đã hoàn thành nhiệm vụ của một người vợ, vợ của một chiến sĩ quân đội, một người mẹ hiền. Hiện nay cả hái chúng tôi tuy tuổi đã cao, vẫn là chỗ dựa của nhau.


