TÔI ĐÃ KHÔNG BÓP CÒ
Chuẩn bị tiến công Buôn Ma Thuột, đơn vị tôi (C2,e574, f470) được lệnh cơ động về Bắc Cư Jút, có nhiệm vụ bảo vệ cây cầu 14, sẵn sàng sửa chữa cầu (nếu bị địch đánh sập) hoặc làm ngầm để xe tăng và cánh quân hướng Tây Nam tiến đánh Buôn Ma Thuột. Cầu 14 là cây cầu nằm trên đường 14, nối liền hai tỉnh Đăk Lăk và Đăk Nông, cách thị xã Buôn Ma Thuột khoảng 14km về hướng Tây Nam. Khi ấy, cây cầu này là cầu bê tông, chỉ một làn xe qua. Đại đội tôi ém quân bên cánh rừng phía Đông cây cầu. Bên cạnh là nương sắn rộng mênh mông, rậm rạp với những bụi cây xấu hổ đầy gai. Tiểu đội tôi làm chiếc hầm chữa A, cách cầu khoảng 300-400m. Ngày, đêm thay nhau canh gác, nếu thấy nước dưới cầu sủi nhiều bọt, tăm, nghi ngờ có “người nhái” phá cầu là ném lựu đạn xuống. Máy bay địch gầm rít trên cao, thả bom phá cầu nhưng chẳng quả nào trúng đích. Ngày ấy, tiểu đội tôi nhặt được chiếc xe đạp “cởi truồng”. Không chuông, không phanh, không gác đờ bu. Hai bàn đạp chỉ là hai cái chuôi nhọn hoắt, hại lốp không có hơi, bẹp dí. Gã ma lanh Đỗ Trọng Kiềm (lính tháng 8/1973, người Thường Tín, Hà Tây) tháo xăm thủng vứt ra rồi nhét chặt giẻ rách vào trong lốp, vậy là có chiếc xe “lốp đặc”, đạp nặng như đẩy xe cút kít chở đất. Đầu tháng 3, trời Tây Nguyên nắng như đổ lửa, mặt đường 14 cứ loáng loáng. Vậy mà anh em trong tiểu đội vẫn tranh nhau đi thử. Chắc ở trong rừng lâu ngày, sợ quên cách đi xe đạp.
Đêm ấy, tôi gác phiên từ 2 đến 4 giờ sáng. 2 quả lựu đạn bên hông, khẩu AK-47 với một băng đạn lắp đầy. Mắt tôi liên tục quét dọc cây cầu và hai bên bờ sông. Dòng Sêrêpôk cuộn cuộn chảy ngược về hướng Tây. Ánh trăng bàng bạc soi xuống những lùm cây đen ngòm hai bên bờ, câm lặng như những bóng ma. Bỗng tôi run lên khi thấy hai bóng đen tiến vào đầu cầu bờ Bắc. Nép mình bên thành cầu, tôi vội mở khóa an toàn và hô lớn:
- Đứng yên. Không tôi bắn.
- Đừng bắn, đừng bắn. Xin ông đừng bắn.
Hai bóng đen một to cao, một nhỏ nhắn dừng lại. Tay kẹp chặt khẩu AK, mũi súng hướng vào 2 bóng đen, tôi tiến lại gần. Dưới ánh sáng bàng bạc của trăng khuya, tôi thấy một tên lính ngụy trong bộ quần áo rằn ri còn nguyên cấp hiệu. Đầu tóc bù xù, râu ria lởm chởm. Nhìn bộ râu ấy, tôi biết nó mọc ra từ sự lo âu, hoang mang và sợ hãi chứ không phải loại râu kiểu cách, ăn chơi. Bên cạnh hắn là một phụ nữ dong dỏng cao, còn trẻ và đẹp. Hai tay cô ôm một đứa bé sơ sinh quấn trong mảnh vải trắng. Thấy tôi chĩa súng thẳng vào tên lính ngụy, cô gái vội buông một tay đang bế con, níu chặt vào vai tên lính ngụy, run cầm cập.
- Tôi xin ông tha cho vợ con tôi. Vợ tôi mới sinh. Ông có bắn thì bắn mình tôi thôi - tên lính ngụy run run nói.
- Vợ chồng anh đi đâu?
- Vợ tôi mới sinh mà bom đạn cứ nổ ầm ầm xung quanh Ban Mê, trong phố sắp có đánh lớn, tôi trốn đưa vợ con về Cư Jút cho an toàn.
Nghe tiếng qua lại, đứa bé ọ ọe khóc. Cô gái rút tay khỏi vai chồng, hai tay rung rung cái bọc vải bên trong có đứa bé. Nước mắt cô giàn dụa, nhìn chồng nói:
- Em đã bảo rồi, để mình em và con đi, anh đi theo làm chi cho khổ.
- Thôi nào. Chết thì đường nào chẳng chết. Để mình em bế con đi trong lúc loạn lạc, anh sao đành lòng.
Nói rồi tên lính ngụy quỳ xuống mặt cầu, vái như bổ củi:
- Xin ông tha cho vợ con tôi. Còn tôi ông xử thế nào cũng được.



