Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

TÔI ĐI CÙNG LỮ ĐOÀN XE TĂNG 203 TRONG MÙA XUÂN TOÀN THẮNG

Đoạn hồi ký kể lại hành trình Lữ đoàn xe tăng 203 tiến công trong Chiến dịch Hồ Chí Minh tháng 4-1975. Sau khi vượt qua các tuyến phòng thủ ác liệt ở Long Thành, Thủ Đức, cầu Sài Gòn, xe tăng ta tiến thẳng vào Dinh Độc Lập trưa 30-4-1975, buộc Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng. Tác giả xúc động trước giờ phút lịch sử khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, ước nguyện bao năm của quân dân đã thành hiện thực.

Lai Châu27/02/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Tháng 2-1975, đang làm hiệu phó trường Sĩ quan Tăng - Thiết giáp, tôi được gọi về Bộ Tư lệnh Thiết giáp giúp đỡ kiểm tra và chuẩn bị cho Lữ đoàn 215 đi làm nhiệm vụ. Sau ba tuần xuống Lữ đoàn, liên hệ với Quân khu 4, tỉnh Quảng Bình, Đoàn 559, một số binh trạm, quay lại Bộ Tư lệnh tôi xin phép nghỉ vài hôm.

Chiều về đến nhà, tôi đang chuẩn bị đi nằm thì nghe tiếng gọi ngoài cổng. Ra mở cổng, tưởng ai, hóa ra đồng chí Phí Văn Hải (thường gọi là Phi Hải, nay là Thiếu tướng nghỉ hưu ở Hà Nội), cán bộ đơn vị đến báo cáo cho biết phải về đơn vị ngay để cùng đi với Bộ Tư lệnh Binh chủng và một số cán bộ vào mặt trận Quảng Đà.

Chuẩn bị đồ đạc xong, tôi và đồng chí Phi Hải ra bờ sông. Đã qua nửa đêm phải nói khó với lái đò, ông mới vui vẻ chở chúng tôi qua sông. Xe Ô tô đã đợi ở bến đò, lên xe về đơn vị trời vẫn chưa sáng. Sáng ra gặp Tư lệnh Đào Huy Vũ nhận nhiệm vụ. Các anh em cùng đi đã chuẩn bị cho tôi mọi thứ như tăng, bạt, võng, quần áo, lương khô.

Đi chiến dịch lần này, đại diện Bộ Tư lệnh Binh chủng có hai anh Đào Huy Vũ, Tư lệnh ủy viên Thường vụ Đảng ủy và anh Đào Văn Xuân, Phó Chính ủy, phó Bí thư Đảng ủy và cán bộ 4 cơ quan: Tham mưu, chính trị, kỹ thuật, hậu cần. Đi cùng tôi có các đồng chí Cầu thông tin, Tính tác chiến, Chuyên cán bộ kỹ thuật, ngoài ra còn tổ cơ yếu, báo vụ.

Sáng 7 tháng 3, đoàn cán bộ lên đường, không ai nghĩ rằng đây là lần đi chiến trường cuối cùng trong cuộc chiến tranh chống Mỹ. Xe chạy cả ngày, nửa đêm 8 tháng 3 đến thung lũng A Lưới gặp Cơ quan Mặt trận đã ở đây. Sau khi giải phóng Huế, trước khi Lữ đoàn xe tăng 203 tấn công Phan Rang, tôi được Bộ Tư lệnh và Thường vụ Đảng ủy Binh chủng giao nhiệm vụ xuống làm trưởng phòng Tăng - Thiết giáp Quân đoàn 2, để làm tham mưu cho Bộ Tư lệnh Quân đoàn về sử dụng xe tăng trong chiến đấu.

Sau khi Lữ đoàn 203 hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giải phóng Phan Rang và Phan Thiết, chiều 25 tháng 4 Lừ đoàn 203 nhận nhiệm vụ đánh tuyến phòng thủ ngoài của địch, tiến vào thành phố Sài Gòn. Lữ đoàn sử dụng Tiểu đoàn 2, phối thuộc cho các đơn vị bộ binh: Sư đoàn bộ binh 3 đánh chiếm Bà Rịa - Vũng Tàu; Sư đoàn 325 đánh chiếm Long Thành, thọc vào Phước Thiên, Nhơn Trạch; Sư đoàn 304 đột phá tuyến Nước Trong. 17 giờ ngày 26 tháng 4, sau khi pháo bắn chuẩn bị một phân đội xe tăng cùng bộ binh đánh vào Trường Thiết giáp ngụy.

Thế là 17 giờ ngày 26 tháng 4, bộ đội xe tăng đã được vinh dự cùng bộ binh và các đơn vị tham gia trận đánh mở màn chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Đêm 26 và ngày 27: Sư đoàn 325 giải quyết xong Long Thành bắt gần 300 tù binh. Sư đoàn 3 đã giải quyết xong Bà Rịa. Sư đoàn 304 chưa giải quyết khu Nước Trong, vì địch ở đây rất đông: Lính dù, lính thủy đánh bộ, học viên các trường lục quân, thiết giáp... Ta, địch giành nhiều lần một trận địa.

Sáng ngày 28 các hướng Sư 325 và Sư 3 tiếp tục phát triển - Sư 3 sẽ chiếm Vũng Tàu, Sư 325 sẽ tiến về Nhưn Trạch, Tuy Hạ, phà Cát Lái, Sư 304 phát triển chậm và Trung đoàn 9 chiếm được Nước Trong đang đánh tiếp địch ở Ngã Ba, Trung đoàn 24 cũng tiến chậm.

Bộ Tư lệnh Quân đoàn chủ trương hướng Sư đoàn 325 sẽ dùng Trung đoàn 46 đánh, Trung đoàn 101 chiếm Tuy Hạ, Cát Lái. Trung đoàn 9 Sư đoàn 304 giải quyết bằng được cụm địch trước mắt, sau đó phát triển ra hướng sông Bôi cùng với Trung đoàn 24 phát triển ra cầu Xa lộ.

Lữ đoàn xe tăng 203 có nhiệm vụ: bố trí đội hình hàng dọc, nếu Sư đoàn 304 giải quyết xong sông Bôi, thì Lữ đoàn 203 và Trung đoàn 66 đánh chiếm Xa lộ Thủ Đức. Gặp địch phải đánh mở đường tiến vào Sài Gòn.

Trung đoàn 66 bổ sung bộ binh ngồi trên xe tăng, mỗi xe 10 người cho Đại đội xe tăng 5, số còn lại hành quân bằng Ô tô đi sau Lữ đoàn xe tăng 203. Đội hình tiến quân của Lữ đoàn 203, Tiểu đoàn tăng 1 tiếp theo là Tiểu đoàn tăng 4, lữ bộ cùng các Tiểu đoàn pháo, Tiểu đoàn cao xạ, Tiểu đoàn công binh, Tiểu đoàn thiết giáp 5.

Sáng ngày 29 tháng 4 đến 10 giờ sáng, Trung đoàn 9 vẫn gặp khó khăn, Sư đoàn 24 giải quyết cũng không dứt điểm. Thiếu tướng Nguyễn Hữu An - Tư lệnh Quân đoàn ra lệnh cho tôi tổ chức ngay một bộ phận trinh sát tình hình phía trước. Chuẩn bị lên đường thì có lệnh dừng lại, Trung đoàn 9 và Đại đội xe tăng 5 đã diệt hết quân địch đang cản đường. Xe tăng ta đã bắn cháy bốn xe tăng M48 của ngụy bắt sống một xe M41. Tiến ra cầu sông Buông thì cầu đã bị địch phá sập.

23 giờ đêm ngày 29 tháng 4, cầu sông Buông chữa xong. Lữ đoàn xe tăng 203 tiến lên theo đường 15 về Sài Gòn. Đội trinh sát đến ngã ba Đông Nam khu Long Bình gặp địch, ta nổ súng, địch bỏ chạy vào căn cứ. Pháo binh địch bắn vào đội hình tiến công của Lữ đoàn. Xe thiết giáp đến ngã ba Sa lộ - đường 15 dùng B40, B41 (súng bắn xe tăng cầm tay) diệt một xe M41, một xe bọc thép M113.

24 giờ ngày 29 tháng 4 Lữ đoàn tiến đến cầu sông Đồng Nai. Địch dùng pháo, xe tăng từ phía tây cầu bắn vào đội hình. Trên cầu 4 xe M113 của ngụy dàn hàng ngang bắn chặn. Xe tăng của ta tiêu diệt hết, xe địch bốc cháy lửa lan trên mặt cầu. Lữ đoàn triển khai chiến đấu điện về Quân đoàn xin pháo binh chi viện. Tư lệnh Quân đoàn bảo tôi “Phải đốc các anh Tài (Lữ trưởng) và Tùng (Chính ủy lữ) tiến nhanh không chần chừ”, anh viết thư tay cho lữ đoàn kèm theo bản sao thư tay của Tư lệnh Quân đoàn 2 - Nguyễn Hữu An). Địch ngoan cố chống cự, đến 5 giờ toàn bộ lữ đoàn vượt qua.

Địch hai bên đường vẫn chống cự, ta diệt một xe chở đầy quân ngụy. Phân đội đi trước đánh quân địch ngăn chặn ở ngã ba Thủ Dầu Một.

5 giờ 30 xe tăng đến Thủ Đức. Địch bắn vào đội hình xe tăng. Lữ đoàn dùng các loại hỏa lực, cả pháo phòng không 37mm, hạ thấp nòng trực tiếp bắn thẳng vào quân địch. Ta diệt đài quan sát pháo binh địch đặt trên tháp nước Trường Cảnh sát Thủ Đức. Một xe thiết giáp K63-85 của ta sau khi tiêu diệt nhiều địch bị súng chống tăng của chúng bắn cháy. Tôi lên đến nơi đã cùng anh em cứu chữa thương binh và nhờ đồng bào giúp giải quyết tiếp.

Tiểu đoàn xe tăng 1 đuổi sát quân địch rút chạy. Địch chạy dạt sang hai bên đường, các xe đi sau của lữ đoàn quay súng sang hai bên đường diệt nhiều địch. Đến gần cầu Rạch Chiếc ta diệt thêm một xe M48. Từng tốp địch vứt vũ khí trang bị ra hàng. Dọc đường ngổn ngang xe pháo địch.

Khoảng 7 giờ 30 tháng 4 phân đội đi trước đến cầu Sài Gòn. Địch cho cả xe tăng, pháo binh ngăn chặn quyết liệt Tiểu đoàn xe tăng triển khai chiến đấu, Tiểu đoàn trưởng Ngô Nhỡ nhô người ra cửa tháp pháo quan sát và bị địch bắn, anh đã hy sinh. Bốn xe tăng của ta lần lượt bị trúng đạn, một số chiến sĩ bị thương và hy sinh. Ta tập trung hỏa lực bắn trả nhưng khó trúng vì cầu hình cong.

Khoảng 7 giờ 45 ta diệt nhiều ụ súng và bộ binh địch trên cầu. Trên sông Sài Gòn tàu chiến địch xuất hiện. Đại đội 3 và 4 triển khai bắn tàu địch, đến 9 giờ 30 Đại đội tăng 3 vượt cầu, Đại đội tăng 4 xen vào đội hình Đại đội tăng 3. Đến cầu Thị Nghè, hai xe tăng M41 của địch ra ngăn chặn, ta diệt ngay 1 chiếc.

Xe tăng ta tiếp tục tiến, Đại đội 4 đã vượt lên trước Đại đội 3, tiến đến dinh Tổng thống ngụy. Xe 843 của đại đội trưởng Bùi Quang Thận, đi trước không húc sập cửa và không dùng pháo xe tăng bắn, dừng lại trước cổng phụ vì đã nhìn thấy nhiều người lố nhố ở trong sân. Đại đội trưởng Đại đội xe tăng 4 Bùi Quang Thận rút cờ giải phóng ở trên xe 843 chạy thẳng vào dinh. Xe 390 của chính trị viên Vũ Đăng Toàn đi sau húc đổ cửa chính tiến vào sân, thấy Bùi Quang Thận chạy vào dinh, xe 390 dừng lại yểm hộ. Một số xe sau cũng lần lượt vào sân dinh Độc Lập.

Bùi Quang Thận được một người dẫn lên sân thượng, hạ cờ ngụy, kéo cờ giải phóng lên, lúc đó khoảng hơn 11 giờ.

Chính ủy Bùi Văn Tùng tiến vào chỗ Dương Văn Minh bị giữ, buộc Dương Văn Minh phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện và dẫn Minh ra Đài Phát thanh Sài Gòn tuyên bố đầu hàng. Anh Bùi Văn Tùng đã thay nặc Quân giải phóng tiếp nhận đầu hàng của Tổng thống Sài Gòn Dương Văn Minh.

Chiều 30 tháng 4 tôi vào dinh Tổng thống ngụy, vào chỗ văn phòng tôi nhặt một cặp lưu công văn đệ trình Tổng thống, cũng chẳng có thời gian xem những công văn gì, tôi bỏ công văn ở bàn lấy cái cặp làm vật lưu niệm. Lên chỗ phòng có lẽ là phòng khánh tiết, tôi nhìn thấy các Bộ trưởng, Thủ tướng của chính quyền ngụy ngồi nằm la liệt trong phòng.

Chiều 30 tháng 4 các xe tăng vào dinh Tổng thống đã rút ra ngay trước cửa dinh. Đồng bào đã vây quanh các xe tăng, bao nhiêu câu hỏi đồng bào đặt ra nào là miền Bắc có được tự do không? Có no không? Nào là phải lấy vợ chung à? Cưới chung à? Có được tự do lấy vợ không? Sao nói Quân giải phóng trên rừng khổ lắm, ăn không no, mặc không lành? Tôi ôn tồn giải thích. Những người có mặt reo lên “Có thế chứ, có thế chứ...”.

Chúng tôi mỗi người nhận được một túi quà có một khăn mặt, một miếng xà phòng thơm, một bàn chải và một hộp thuốc đánh răng, kèm theo mảnh giấy đề “Thân tặng những chiến sĩ đầu tiên vào giải phóng Sài Gòn”. Chuyện trò không dứt, có một người đến nói nhỏ vào tai tôi: “Các bác, các chú cũng phải đề phòng địch đấy”. Tôi cảm ơn, nhắc cán bộ đơn vị chú ý.

Đồng bào vẫn vây chặt quanh xe, có lẽ cả đêm ấy quân, dân, đều không ngủ. Đêm đó, tôi cũng không ngủ, mà ngủ làm sao được, nghĩ mông lung, nghĩ đến những lần hành quân vào B, dọc đường gặp đồng bào thường hỏi: “Chú ơi, bao giờ miền Nam giải phóng”. Ngày đó tôi làm sao trả lời trước, nhưng các cụ, các ông, các bà, các cháu ơi! Hôm nay mọi người đã được câu trả rồi đó. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 miền Nam thân yêu đã hoàn toàn giải phóng rồi!”.

Ngày 1 tháng 5, Lữ đoàn 203 rút về căn cứ Long Bình. Đoàn cán bộ tập trung trong sân bay Biên Hòa, ở đúng chỗ phái đoàn liên lạc của ta ở.

Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, Bộ Tổng Tư lệnh đã sử dụng xe tăng với lực lượng lớn nhất ở tất cả các hướng chiến dịch. Tôi nhớ lại lời dặn của anh Nguyễn Hữu An, Tư lệnh Quân đoàn 2 khi tôi quay lại đón 2 tiểu đoàn xe tăng nằm lại ở Đà Nẵng: “Cố đưa xe tăng vào càng sâu càng tốt. Nó vào chậm, giờ nổ súng của Quân đoàn có thể bị chậm lại”.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn