Tôn Quang Phiệt – Một trí thức giàu lòng yêu nước
Phan Thị Cẩm Nhung
Tôn Quang Phiệt (1900 - 1973) xuất thân trong một gia đình nhà Nho tại xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Ông là con của cử nhân Tôn Thúc Định. Thuở nhỏ ông học ở Vinh, rồi học lớp đầu tiên của trường Quốc học Vinh, cùng với những người bạn đồng môn như Đặng Thai Mai, Nguyễn Sĩ Sách, Phạm Thiều... Trong những năm học tại đây, ông luôn là người mẫu mực và sớm thể hiện tinh thần yêu nước qua việc viết truyện ngắn, viết báo.
Năm 1924, sau khi tốt nghiệp trường Quốc học Vinh, ông đăng ký vào học Trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương. Ngày 25-1-1925, ông cùng 16 sinh viên yêu nước của trường, trong đó có Phạm Thiều, Đặng Thai Mai, Nguyễn Quốc Túy… tổ chức thành lập Hội Việt Nam Nghĩa đoàn, tham gia đấu tranh đòi thực dân Pháp thả cụ Phan Bội Châu. Sau khi thống nhất với Hội Phục Việt ở Vinh, ông được cử làm Hội trưởng. Hội Phục Việt sau đó đổi tên thành Hội Hưng Nam rồi Đảng Tân Việt, một trong những tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tháng 6 năm 1926, ông cùng các hội viên Hội Phục Việt như Trần Phú, Vương Thúc Oánh, Hoàng Tùng… sang Quảng Châu (Trung Quốc) để gặp các nhân vật trong Việt Nam Cách mạng đảng. Tuy nhiên, khi mới đến Móng Cái, ông và Hoàng Tùng bị mật thám Pháp bắt và đưa về giam tại Hà Nội. Sau một thời gian, do không đủ chứng cứ buộc tội, ông được trả tự do. Ông tiếp tục bí mật hoạt động và dạy học tại Trường trung học tư thục Thăng Long.
Năm 1927, ông tham gia Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Cuối năm 1929, ông tiếp tục bị bắt và bị Tòa án Nam triều tỉnh Nghệ An kết án 7 năm tù khổ sai, 7 năm quản thúc theo bản án số 11 ngày 21-1-1930, sau đó bị đày đi Buôn Ma Thuột. Trong thời gian ở tù, ông cùng những người tù chính trị sáng tác thơ văn, sử dụng văn chương như một phương tiện đấu tranh chống chế độ lao tù hà khắc.
Năm 1934, ông ra tù nhưng tiếp tục bị quản thúc. Sau một thời gian dạy học tại một trường tư thục ở Vinh, ông vào Huế mở trường và làm hiệu trưởng Trường tư thục Thuận Hóa, đồng thời bắt liên lạc với phong trào cách mạng tại đây. Từ năm 1936 - 1945, ông tham gia Mặt trận Dân chủ, phong trào Đông Dương đại hội, Hội Truyền bá Quốc ngữ và sau đó hoạt động trong Thành bộ Việt Minh Nguyễn Tri Phương ở Huế.
Ngày 23-8-1945, khởi nghĩa giành chính quyền ở Huế thành công. Ông được bầu làm Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Cách mạng đầu tiên của tỉnh Thừa Thiên, sau đó giữ chức Chủ tịch Ủy ban Hành chính Thừa Thiên. Từ năm 1946 - 1963, ông liên tục là đại biểu Quốc hội và đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng trong Quốc hội cũng như các hội, đoàn thể.
Từ năm 1954, ông tập trung nghiên cứu về lịch sử và văn học, tham gia Ban nghiên cứu Sử, Địa, Văn. Ông để lại nhiều công trình nghiên cứu có giá trị như Lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, Trên đường tranh đấu của nhân dân Việt Nam, Phan Bội Châu và một giai đoạn lịch sử chống Pháp của nhân dân Việt Nam... Bên cạnh đó, ông còn là nhà thơ, nhà văn với nhiều tác phẩm như Thanh khí tương cầu, Khách không nhà, Bẻ nạng chống trời, Duyên nợ bên hồ, Một ngày ngàn thu...
Ông còn được biết đến là một dịch giả Hán học có uy tín. Với nền tảng Hán học được đào tạo từ nhỏ cùng vốn hiểu biết sâu rộng, các bản dịch của ông được giới nghiên cứu tin cậy và sử dụng trong nghiên cứu. Một số tác phẩm tiêu biểu có Phan Bội Châu niên biểu, do ông và Phạm Trọng Điền dịch, và Việt Nam nghĩa liệt sử của Phan Bội Châu.
Ông mất ngày 1-12-1973 trong một chuyến công tác tới Bắc Kinh, Trung Quốc. Tại tang lễ, điếu văn đã ghi nhận ông là một trí thức giàu lòng yêu nước, trung thành với cách mạng và nhân dân, luôn bền bỉ chiến đấu, tự trau dồi và rèn luyện để trở thành người cách mạng chân chính.
Với những đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng, nghiên cứu lịch sử và văn hóa, Tôn Quang Phiệt được Nhà nước trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Sao Vàng cùng nhiều phần thưởng cao quý khác.
Thông điệp:
Cuộc đời Tôn Quang Phiệt là câu chuyện về một người trí thức luôn gắn việc học tập, nghiên cứu và hoạt động xã hội với trách nhiệm đối với đất nước. Những đóng góp của ông nhắc thế hệ hôm nay về giá trị của lòng yêu nước, tinh thần trách nhiệm và ý chí cống hiến cho quê hương, dân tộc.



