TÔN THẤT TÙNG: "ĐÔI BÀN TAY VÀNG" VÀ CUỘC CÁCH MẠNG TRONG PHÒNG MỔ THỜI CHIẾN
Trong danh sách những nhân vật lịch sử ngành y, Giáo sư Tôn Thất Tùng là một cái tên lừng lẫy, không chỉ bởi tài năng kiệt xuất được thế giới công nhận mà còn bởi tấm lòng tận tụy với đất nước. Ông là nhân chứng cho một thời kỳ mà trí tuệ Việt Nam đã tự vươn lên từ thiếu thốn để tạo nên những kỳ tích y học, cứu sống hàng vạn chiến sĩ ngay tại mặt trận.
Tôn Thất Tùng sinh năm 1912 tại Thanh Hóa, lớn lên ở Huế và học y khoa tại Hà Nội. Năm 1939, ông là người đầu tiên thực hiện thành công phương pháp cắt gan khô – một kỹ thuật sau này được y học thế giới gọi là "Phương pháp Tôn Thất Tùng". Khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông từ bỏ các bệnh viện lớn ở thủ đô để theo Chính phủ lên chiến khu Việt Bắc.
Phóng viên: Thưa các y bác sĩ từng là học trò của Giáo sư Tôn Thất Tùng, tinh thần "khoa học vị nhân sinh" của ông được thể hiện như thế nào giữa điều kiện khắc nghiệt của hầm hào kháng chiến?
Nhân chứng: Thầy Tùng có một kỷ luật thép nhưng trái tim vô cùng ấm áp. Giữa chiến khu, thiếu thốn đủ đường từ thuốc gây mê đến dụng cụ phẫu thuật, thầy đã sáng tạo ra những phương pháp mổ nhanh, hiệu quả để cứu thương binh. Hình ảnh thầy đứng mổ hàng chục ca liên tục dưới ánh đèn dầu trong hang đá là biểu tượng của sự hy sinh thầm lặng. Thầy luôn dặn chúng tôi: "Mỗi đường dao của mình là sinh mạng của một con người, không được phép sai sót dù chỉ một li".
Sự đóng góp của ông không chỉ dừng lại ở kỹ thuật ngoại khoa mà còn là công trình nghiên cứu về tác hại của chất độc da cam/dioxin đối với con người, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh công lý cho các nạn nhân chiến tranh.
Phóng viên: Điều gì khiến cái tên Tôn Thất Tùng vẫn luôn là niềm tự hào của y học Việt Nam trên trường quốc tế?
Nhân chứng: Đó là bởi ông đã chứng minh rằng người Việt Nam có thể làm chủ những kỹ thuật khó nhất thế giới bằng chính đôi bàn tay và khối óc của mình. Ông được bầu làm Viện sĩ Viện Hàn lâm Phẫu thuật Paris và nhiều tổ chức quốc tế khác, nhưng ông vẫn luôn tự hào nhất khi được đứng trong hàng ngũ những người chiến sĩ áo trắng của quân đội nhân dân. Sự dấn thân của ông là bài học lớn về việc đặt tài năng đúng chỗ - đó là phục vụ nhân dân khi Tổ quốc cần.
Nếu Tôn Thất Tùng xây dựng nền y học thì Huỳnh Tấn Phát là người đã dùng tài năng hội họa và kiến trúc của mình để xây dựng nên những cơ sở chính trị vững chắc của cách mạng miền Nam. Ông là một trí thức tiêu biểu, một nhân chứng lịch sử đã từ bỏ danh vọng cá nhân để trở thành Chủ tịch Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.
Huỳnh Tấn Phát sinh năm 1913 tại Mỹ Tho. Sau khi tốt nghiệp thủ khoa ngành Kiến trúc tại Trường Mỹ thuật Đông Dương, ông nhanh chóng trở thành một kiến trúc sư danh tiếng tại Sài Gòn với văn phòng riêng luôn tấp nập khách hàng thượng lưu. Tuy nhiên, ông đã sớm nhận ra vẻ đẹp thực sự không nằm ở những tòa nhà hào nhoáng mà ở sự tự do của dân tộc.
Phóng viên: Thưa các đồng đội của kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, vai trò của một trí thức như ông trong việc vận động các tầng lớp nhân dân Sài Gòn đi theo cách mạng đã diễn ra như thế nào?
Nhân chứng: Ông Phát có vẻ ngoài thư sinh, phong thái đĩnh đạc và khả năng thuyết phục rất lớn. Ông đã dùng uy tín của một kiến trúc sư nổi tiếng để thâm nhập vào giới trí thức, tư sản yêu nước, vận động họ ủng hộ kháng chiến. Ông chính là người thiết kế lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam – biểu tượng của khát vọng thống nhất. Trong rừng sâu hay giữa đô thị, ông luôn là cầu nối gắn kết sức mạnh của mọi tầng lớp nhân dân.
Cuộc đời ông là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tư duy khoa học và lòng nhiệt huyết cách mạng. Ông không chỉ là một nhà lãnh đạo chính trị mà còn tham gia quy hoạch, thiết kế các khu căn cứ kháng chiến trở nên khoa học và an toàn hơn.
Phóng viên: Sau ngày giải phóng, dấu ấn kiến trúc và tư tưởng của Huỳnh Tấn Phát để lại cho đất nước là gì?
Nhân chứng: Dù ở cương vị Phó Thủ tướng Chính phủ hay Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, ông vẫn giữ nguyên phong thái của một người kiến trúc sư tâm huyết. Ông tham gia chỉ đạo quy hoạch xây dựng lại đất nước sau chiến tranh, đặc biệt là các công trình văn hóa và bảo tồn di sản. Ông dạy chúng ta rằng: "Kiến trúc đẹp nhất chính là một xã hội công bằng và hạnh phúc". Huỳnh Tấn Phát là hiện thân của một thế hệ trí thức Nam Bộ hào hiệp, dám từ bỏ tất cả để đi theo tiếng gọi của lương tâm và Tổ quốc.



