Người có công giúp đỡ cách mạng

TỔNG BÍ THƯ NÔNG ĐỨC MẠNH – NGƯỜI CON ƯU TÚ CỦA MIỀN SƠN CƯỚC VIỆT BẮC VÀ DẤU ẤN ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

An Giang08/10/2026Nguyễn Ngọc Minh Ánh (Phường Dĩ An)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Từ người cán bộ kỹ thuật lâm nghiệp lặn lội giữa những cánh rừng đại ngàn Bắc Kạn đến hai nhiệm kỳ liên tiếp giữ trọng trách Chủ tịch Quốc hội và hai nhiệm kỳ đảm nhiệm cương vị Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, câu chuyện về đồng chí Nông Đức Mạnh – vị Tổng Bí thư đầu tiên xuất thân từ đồng bào dân tộc thiểu số (dân tộc Tày) – gắn liền với giai đoạn đất nước đẩy mạnh toàn diện công cuộc Đổi mới, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu.

NGƯỜI CÁN BỘ LÂM NGHIỆP TRƯỞNG THÀNH TỪ THỰC TIỄN RỪNG NÚI CHIẾN KHU

Sinh ngày 11/9/1940 tại xã Cường Lợi, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn – mảnh đất giàu truyền thống cách mạng của cái nôi chiến khu Việt Bắc, chàng thanh niên Nông Đức Mạnh sớm gắn bó máu thịt với thiên nhiên và con người miền núi.

Sau khi hoàn thành chương trình sơ cấp lâm nghiệp, ông bắt đầu sự nghiệp với vai trò công nhân, cán bộ kỹ thuật tại Ty Lâm nghiệp Bắc Kạn. Năm 1963, ông được cử sang Liên Xô theo học tại Viện Kỹ thuật Lâm nghiệp Leningrad (nay là Đại học Lâm nghiệp Saint Petersburg). Trở về nước với tấm bằng kỹ sư lâm nghiệp, ông kinh qua nhiều vị trí quản lý then chốt tại địa phương: Trưởng ban Thanh tra Ty Lâm nghiệp, Phó Giám đốc Công ty Lâm công nghiệp Phú Lương, rồi từng bước đảm nhận cương vị Phó Bí thư, Bí thư Tỉnh ủy Bắc Thái, kiêm Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh.

Quá trình tôi rèn từ cơ sở, trực tiếp lăn lộn với rừng núi và đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số đã hình thành nên ở ông phong cách làm việc mộc mạc, gần gũi, sâu sát thực tế và luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho công tác dân tộc, phát triển kinh tế vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ kháng chiến cũ.

DẤU ẤN ĐỔI MỚI NGHỊ TRƯỜNG TRÊN CƯƠNG VỊ CHỦ TỊCH QUỐC HỘI

Tại Đại hội VII của Đảng (năm 1991), đồng chí Nông Đức Mạnh được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, sau đó được Bộ Chính trị phân công làm Trưởng ban Dân tộc Trung ương. Năm 1992, tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa IX, ông được bầu giữ chức Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và tiếp tục được tín nhiệm bầu tái đắc cử tại Quốc hội khóa X (1997).

Trong suốt gần một thập kỷ đảm nhiệm cương vị người đứng đầu cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất (1992 – 2001), ông đã lãnh đạo Quốc hội có những bước chuyển mình mạnh mẽ theo hướng thực chất, dân chủ và minh bạch:

  • Đẩy mạnh công tác lập hiến, lập pháp: Cụ thể hóa bản Hiến pháp năm 1992, chỉ đạo ban hành hàng loạt bộ luật quan trọng như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động, Luật Doanh nghiệp... tạo dựng khung khổ pháp lý vững chắc cho nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường.

  • Đổi mới hoạt động chất vấn và giám sát tối cao: Đây là thời kỳ Quốc hội bắt đầu truyền hình và phát thanh trực tiếp các phiên họp toàn thể và phiên chất vấn các thành viên Chính phủ tới cử tri cả nước, mở rộng dân chủ và tăng cường tính trách nhiệm của các cơ quan hành pháp trước nhân dân.

  • HAI NHIỆM KỲ TỔNG BÍ THƯ VÀ BƯỚC CHUYỂN MÌNH HỘI NHẬP SÂU RỘNG (2001 – 2011)

    Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (tháng 4/2001), đồng chí Nông Đức Mạnh được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng và tiếp tục được Đại hội X (tháng 4/2006) tín nhiệm bầu giữ chức vụ này cho đến năm 2011.

    Mười năm trên cương vị người lãnh đạo cao nhất của Đảng là giai đoạn đất nước chứng kiến những bước phát triển vượt bậc về kinh tế và vị thế quốc tế:

    • Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: Dưới sự lãnh đạo của ông và Bộ Chính trị, Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết chiến lược xác lập rõ vai trò của các thành phần kinh tế, phát huy mạnh mẽ nội lực của kinh tế tư nhân song song với việc nâng cao hiệu quả của kinh tế nhà nước.

  • Đưa Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO): Tháng 1/2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO. Dưới thời kỳ này, tiến trình mở cửa, ký kết các hiệp định thương mại song phương và đa phương được đẩy mạnh, kim ngạch xuất nhập khẩu tăng trưởng phi mã, thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) bùng nổ, đưa Việt Nam từng bước thoát khỏi ngưỡng nước nghèo kém phát triển.

  • Chiến lược biển và phát triển nông nghiệp, nông thôn: Hội nghị Trung ương 4 (khóa X) năm 2007 đã thông qua Nghị quyết số 09-NQ/TW về "Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020", đặt nền tảng định hướng đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển song hành với bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo. Đồng thời, Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X) về "Nông nghiệp, nông dân, nông thôn" (Tam nông) đã mở ra chương trình Mục tiêu quốc gia về xây dựng Nông thôn mới trên quy mô toàn quốc.

  • Đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bồ Cụ Hồ: Năm 2006, Bộ Chính trị khóa X đã phát động Cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", tạo chuyển biến sâu rộng trong toàn hệ thống chính trị về rèn luyện phẩm chất, chống tham nhũng, lãng phí và củng cố niềm tin của nhân dân.

  • Sau khi kết thúc nhiệm kỳ Đại hội X vào đầu năm 2011, đồng chí Nông Đức Mạnh thanh thản chuyển giao trọng trách lãnh đạo cho thế hệ kế tiếp và trở về với cuộc sống đời thường tại Thủ đô Hà Nội.

    Gắn bó hơn nửa thế kỷ với sự nghiệp cách mạng, cuộc đời của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh là tấm gương về sự bền bỉ, mộc mạc và tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc. Giai đoạn lãnh đạo của ông đã góp phần quan trọng giữ vững ổn định chính trị, tạo tiền đề vật chất và mở rộng

    Bạn cũng đang lưu giữ
    một câu chuyện lịch sử?

    Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

    Gửi câu chuyện của bạn