TỐNG DUY TÂN - TỪ MỘT VỊ QUAN TRIỀU NGUYỄN ĐẾN THỦ LĨNH CHỐNG PHÁP NỔI TIẾNG NHẤT XỨ THANH.
Hơn một thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày cụ Tống Duy Tân ngã xuống dưới lưỡi dao của thực dân Pháp, nhưng tên tuổi của ông vẫn được người dân Việt Nam nhắc đến như một biểu tượng tiêu biểu của lòng yêu nước, khí tiết và tinh thần bất khuất trong phong trào Cần Vương cuối thế kỷ XIX.
Hơn một thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày cụ Tống Duy Tân ngã xuống dưới lưỡi dao của thực dân Pháp, nhưng tên tuổi của ông vẫn được người dân Việt Nam nhắc đến như một biểu tượng tiêu biểu của lòng yêu nước, khí tiết và tinh thần bất khuất trong phong trào Cần Vương cuối thế kỷ XIX.
Tống Duy Tân sinh năm 1838 tại làng Bồng Trung, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Ông xuất thân trong một gia đình nhà nho có truyền thống hiếu học. Ngay từ nhỏ, Tống Duy Tân đã nổi tiếng thông minh, ham học và sớm bộc lộ tư chất của một người có chí lớn. Năm 1864, ông đỗ Cử nhân. Đến năm 1875, ông tiếp tục đỗ Tiến sĩ dưới triều vua Tự Đức, trở thành một trong những trí thức tiêu biểu của xứ Thanh thời bấy giờ.
Sau khi đỗ đạt, Tống Duy Tân được triều đình bổ nhiệm nhiều chức vụ quan trọng. Ông từng giữ chức Tri phủ Quảng Oai, Đốc học Thanh Hóa rồi Án sát Hải Dương. Trong thời gian làm quan, ông nổi tiếng thanh liêm, cương trực và luôn quan tâm đến đời sống nhân dân. Tuy nhiên, trước cảnh đất nước ngày càng rơi vào tay thực dân Pháp, ông dần nhận ra rằng con đường cứu nước không thể chỉ dựa vào những cải cách hành chính hay những lời can gián trong triều đình.
Năm 1885, sau sự kiện kinh thành Huế thất thủ và vua Hàm Nghi ban Chiếu Cần Vương kêu gọi toàn dân đứng lên chống Pháp, Tống Duy Tân lập tức hưởng ứng. Ông từ bỏ con đường quan lộ, trở về quê nhà tập hợp nghĩa sĩ, xây dựng căn cứ kháng chiến tại vùng núi Hùng Lĩnh thuộc Thanh Hóa.
Từ đây, tên tuổi Tống Duy Tân gắn liền với cuộc khởi nghĩa Hùng Lĩnh, một trong những cuộc khởi nghĩa lớn và bền bỉ nhất của phong trào Cần Vương.
Khác với nhiều cuộc nổi dậy mang tính tự phát, khởi nghĩa Hùng Lĩnh được tổ chức khá chặt chẽ. Tống Duy Tân cùng các cộng sự như Cao Điển, Cầm Bá Thước, Hà Văn Mao và nhiều nghĩa sĩ khác xây dựng hệ thống căn cứ liên hoàn ở vùng rừng núi Thanh Hóa. Nghĩa quân vừa sản xuất lương thực, vừa luyện tập quân sự, đồng thời tổ chức nhiều trận đánh làm quân Pháp nhiều phen lao đao.
Suốt 7 năm trời, từ năm 1885 đến năm 1892, nghĩa quân Hùng Lĩnh liên tục chiến đấu trong điều kiện vô cùng thiếu thốn. Vũ khí chủ yếu là súngtrường cũ, giáo mác và các loại v.ũ k.h.í tự chế. Trong khi đó, đối phương là đội quân thực dân được trang bị hiện đại hơn rất nhiều.
Dù vậy, bằng địa thế hiểm trở của vùng núi Thanh Hóa và tinh thần quyết chiến quyết thắng, nghĩa quân đã gây cho quân Pháp nhiều tổn thất nặng nề. Không ít lần quân Pháp phải huy động lực lượng lớn để càn quét nhưng vẫn không thể nhanh chóng dập tắt phong trào.
Nhận thấy Tống Duy Tân là linh hồn của cuộc khởi nghĩa, thực dân Pháp tìm mọi cách truy bắt ông. Chúng treo thưởng lớn, khủng bố gia đình và người thân của nghĩa quân. Cuối cùng, sau nhiều năm truy lùng, bằng các thủ đoạn mua chuộc và phản bội, quân Pháp đã bắt được Tống Duy Tân vào năm 1892.
Sau khi bị bắt, thực dân Pháp tìm mọi cách dụ dỗ ông đầu hàng để làm suy sụp tinh thần nghĩa quân. Chúng hứa hẹn tha c.h.ế.t, cho hưởng vinh hoa phú quý nếu ông chịu hợp tác. Nhưng Tống Duy Tân vẫn giữ khí tiết của một bậc đại thần yêu nước.
Khi bị giam cầm, ông đã để lại bài thơ nổi tiếng:
“Thủy tri kim ngã tại lung trung”
Dịch nghĩa:
“Nguyện kế tiên vương trừ giặc nước
Ai hay nay lại ở trong lồng.”
Chỉ hai câu thơ ngắn ngủi nhưng thể hiện đầy đủ tâm trạng của người chí sĩ. Cả đời mang hoài bão giúp vua cứu nước, đánh đuổi ngoại xâm, cuối cùng lại rơi vào cảnh t.ù đày. Thế nhưng trong những câu thơ ấy không hề có sự khuất phục, chỉ có nỗi đau của người chưa hoàn thành được chí lớn.
Ngày 15/10/1892, thực dân Pháp đưa Tống Duy Tân ra xử c.h.é.m tại thị xã Thanh Hóa.
Trước giờ phút cuối cùng của cuộc đời, ông vẫn giữ phong thái ung dung của một bậc đại trượng phu. Không r.u.n s.ợ, không van xin, ông bình tĩnh hướng về nhân dân, từ biệt quê hương và đọc câu đối cuối cùng để lại cho con cháu:
“Nhi kim thủy liễu tiền sinh thái
Tự cổ do truyền bất tử danh.”
Dịch nghĩa:
“Món nợ tiền sinh nay mới trả
Cái danh bất tử trước còn truyền.”
Đó không chỉ là lời từ biệt mà còn là lời khẳng định niềm tin của ông vào chính nghĩa dân tộc. Ông chấp nhận cái chết như một sự trả nợ với non sông, còn danh tiết của người yêu nước sẽ mãi được hậu thế ghi nhớ.
Cuộc khởi nghĩa Hùng Lĩnh tuy thất bại nhưng đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Cuộc chiến kéo dài suốt 7 năm giữa lực lượng nghĩa quân với quân đội thực dân được trang bị hiện đại đã cho thấy ý chí quật cường của nhân dân Việt Nam. Đó là tinh thần “thà chết vinh còn hơn sống nhục”, tinh thần không khuất phục trước bất kỳ thế lực xâm lăng nào.
Sau khi Tống Duy Tân hy sinh, tên tuổi ông ngày càng được nhân dân kính trọng. Nhiều nhà nghiên cứu đánh giá ông là một trong những lãnh tụ tiêu biểu nhất của phong trào Cần Vương tại Trung Kỳ. Không chỉ là một nhà quân sự, ông còn là một nhà nho yêu nước tiêu biểu, kết hợp giữa trí tuệ của người trí thức và khí phách của người chiến sĩ.
Ngày nay, tên Tống Duy Tân được đặt cho nhiều tuyến đường, trường học và công trình công cộng tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Nam Định, Thanh Hóa cùng nhiều địa phương khác. Tại quê hương Vĩnh Lộc, đền thờ và lăng mộ của ông đã được xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia, trở thành địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống cho các thế hệ sau.
Điều đặc biệt là nhiều năm sau, khi hoạt động tại Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng bày tỏ sự kính trọng đối với những chí sĩ yêu nước như Tống Duy Tân. Người viết:
“Cái chết của họ làm cho Tổ quốc họ sống lại, lòng can đảm của họ bất diệt.”
Có lẽ đó cũng là lời đánh giá ngắn gọn nhưng sâu sắc nhất về cuộc đời của Tống Duy Tân.
Ông không thể chứng kiến ngày đất nước giành lại độc lập. Nhưng chính những người như ông đã góp phần giữ ngọn lửa yêu nước không bao giờ tắt trong những năm tháng đen tối nhất của dân tộc.
Hơn 130 năm đã trôi qua kể từ ngày vị Tiến sĩ xứ Thanh bước lên pháp trường, nhưng khí phách của người thủ lĩnh khởi nghĩa Hùng Lĩnh vẫn còn nguyên giá trị. Tống Duy Tân đã ra đi, nhưng tên tuổi ông đã trở thành một phần của lịch sử Việt Nam, một biểu tượng về lòng yêu nước, tinh thần bất khuất và ý chí không chịu khuất phục trước ngoại bang.



