PHẦN MỘT NGUỒN GỐC, TÍNH CHẤT CỦA THỔ PHỈ
I- NGUỒN GỐC CỦA THỔ PHỈ Ở LÀO CAI
Lào Cai là một tỉnh miền núi biên giới, có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, số dân toàn tỉnh có 75.644 người, bao gồm 15 dân tộc, trong đó dân tộc H’mông chiếm 38,14% tập trung ở 4 huyện Bắc Hà, Sa Pa, Bát Xát, Mường Khương; dân tộc Dao chiếm 18,8%; dân tộc Thổ chiếm 12,3%; dân tộc Dáy chiếm 10,7%; dân tộc Nùng chiếm 10%, số còn lại là các dân tộc khác. Do tập quán sinh hoạt và sản xuất khác nhau nên người H’mông thường ở rẻo cao; người Dao, người Tu Dí, U Ní, Xa Phó, Thu Lao ở những triền núi trung bình; người Thổ (Tày), người Dáy ở vùng thấp; người Hoa ở thị xã, thị trấn để buôn bán; người Kinh ở những nơi có ruộng lúa nước... Nhưng các dân tộc ở Lào Cai đều ở thành từng bản, từng chòm xóm riêng.
Dưới thời Pháp thuộc tình hình xã hội Lào Cai mang tính chất một xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Trình độ dân trí các dân tộc nói chung còn thấp kém, hầu hết đồng bào các dân tộc không biết chữ phổ thông; trình độ sản xuất chủ yếu dựa trên cơ sở nền sản xuất tự nhiên, tự cấp, tự túc lại bị đế quốc phong kiến bóc lột thậm tệ. Bên cạnh việc sử dụng chính sách bóc lột của chủ nghĩa tư bản, thực dân Pháp còn duy trì nguyên vẹn các hình thức bóc lột của chế độ phong kiến miền núi. Khác với các tỉnh miền xuôi, vùng cao biên giới ở Lào Cai còn có chế độ thổ ty rất tàn bạo; thổ ty cầm đầu các dân tộc, dòng họ ở vùng nào được coi như thủ lĩnh của vùng ấy. Chúng kiểm soát cát cứ, chiếm đoạt tài nguyên và nắm toàn bộ vận mệnh của mọi người dân sống ở đó. Người lao động bị đối xử như những nông nô thời chiếm hữu nô lệ. Khi tái chiếm Lào Cai, thực dân Pháp vẫn duy trì chính sách muôn thuở là chia để trị và "dùng người Việt trị người Việt". Để duy trì chế độ cai trị thuộc địa, thực dân Pháp đã nắm lấy đội ngủ thổ ty. Trừ một vài thổ ty nhỏ được cách mạng cảm hóa, số còn lại hầu hết là bọn tay sai rất lợi hại của thực dân Pháp. Chúng chọn những thổ ty lớn có thế lực, trung thành với tư tưởng phản động trao cho các chức dịch ngụy quyền như: tỉnh trưởng xứ Thái là thổ ty Đèo Văn Ân, tỉnh trưởng xứ Nùng là thổ ty Nông Vĩnh An, tỉnh phó là thổ ty La Văn Đức. Mọi chức vụ châu úy, lý trưởng, tổng đoàn cũng đều giao cho các thổ ty. Vốn là thủ lĩnh, thổ ty đều có tổ chức vũ trang để đàn áp, cướp đoạt. Được bọn đế quốc, phát xít đỡ đầu, dung túng nên lực lượng vũ trang của thổ ty rất mạnh. Các thổ ty lớn ở Bắc Hà, Mường Khương, Pha Long có lúc đã có tới hàng ngàn quân, trang bị vũ khí bộ binh đủ loại và cả phương tiện thông tin để liên lạc với Pháp.
Thổ ty Lào Cai còn được đế quốc Pháp ban cho nhiều đặc quyền đặc lợi: tự do buôn bán với Pháp, độc quyền buôn bán muối, thuốc phiện và thầu sòng bạc. Giữa các thổ ty cũng có sự cạnh tranh quyết liệt, mâu thuẫn dân tộc dòng họ thường xuyên xảy ra. Điển hình là vụ năm 1945, Sề Cồ Tìn, một thổ ty lớn ở Bát Xát đã cấp súng cho dân tộc U Ní (Ý Tý) để cướp của, đốt nhà, bân giết người H'mông ở Mường Hum. Ở Bắc Hà hai tên Giàng Cổ Hòa và Hản Sào Lùng đã gây ra vụ chém giết giữa người H’mông và người Xá làm hơn 1.000 người Xá bị tàn sát. Tính mạng đồng bào các dân tộc khác cũng luôn bị đe dọa; đời sống người lao động nheo nhóc đến cùng cực, những thứ tối thiểu phục vụ cho nhu cầu cuộc sống của nhân dân vùng cao như muối và thuốc lào lại vô cùng thiếu thốn. Nhiều gia đình đã đói cơm lại nhạt muối, phải đốt cỏ tranh lấy tro để ăn thay muối. Lợi dụng những khó khăn ấy, đế quốc Pháp và tay sai đã dùng muối, thuốc lào để mua chuộc dụ dỗ đồng bào các dân tộc. Khi quá khan hiếm, chúng còn tung muối và thuốc lào ra làm vật treo giải thưởng cho những ai cắt được đầu cán bộ Việt Minh.
Sau khi bị Nhật đảo chính, đế quốc Pháp đã sử dụng phái đoàn 5 cục tình báo và phản gián chiến lược1 (Phái đoàn 5 được chính phủ lưu vong Đờ Gôn Pháp lập ra năm 1943, là một bộ phận của phân cục viễn đông Tổng cục nghiên cứu và tìm hiểu, viết tắt là DGER. Khóa 49 của DGER đổi thành GCMA, chuyên trách gây phỉ) ở Côn Minh (Vân Nam - Trung Quốc) về Việt Nam móc nối chuẩn bị địa bàn phục vụ cho âm mưu trở lại xâm lược nước ta. Trên hướng Lào Cai, từ năm 1945 đến năm 1947 phái đoàn 5 đã lập đước 3 tuyến tình báo thâm nhập vào các huyện Phong Thổ, Bát Xát và thị xã Lào Cai; chiếm một phần ba tổng số tuyến tình báo đường bộ trên dọc tuyến biên giới Việt - Trung; nối được liên lạc với tất cả các thổ ty, hình thành sự câu kết có tổ chức giữa gián điệp Pháp với đặc vụ Tưởng Giới Thạch và thổ ty phản động.
Cách mạng Tháng Tám thành công, quân Nhật bị bại trận, quân Tưởng Giới Thạch với tư cách một thành viên của phe Đồng minh vào giải giáp quân Nhât. Theo gót quân đội Tưởng là bọn Việt Nam quốc dân đảng chống lại chính thể nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Lợi dụng tình hình Lào Cai gặp nhiều khó khăn, cơ sở cách mạng còn mỏng yếu, phái đoàn 5 đã tranh thủ cung cấp tiền của, vũ khí để bọn thổ ty La Văn Đức, Nông Vĩnh An củng cố xây dựng lực lượng vũ trang riêng, tăng cường quản lý cát cứ chờ quân Pháp trở lại. Những năm 1945-1947 ta thực hiện sách lược tranh thủ lôi kéo thổ ty để xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân thì các thổ ty lớn như Nông Vĩnh An không ra. Số khác như Nông Vĩnh Xương, Lồ Vạn Phù, Hoàng A Tưởng, Châu Quang Lồ tuy chấp nhận tham gia chính quyền cấp tỉnh của ta, nhưng đến năm 1947 lúc thực dân Pháp mở cuộc tiến công lên Việt Bắc rồi từ Lai Châu, Phong Thổ đánh sang Lào Cai thì các thổ ty ấy đã ráo riết bắt liên lạc với Pháp, ra sức phản đối chính sách của ta, buộc ta phải phân tán để đối phó, đồng thời chúng bỏ hẳn các vị trí chính quyền, trở về cát cứ như cũ chuẩn bị lực lượng vũ trang chống lại ta. Thời kỳ này chúng đã gây cho ta nhiều thiệt hại, tạo điều kiện thuận lợi căn bản cho quân đội Pháp nhanh chóng tái chiếm Lào Cai.
Năm 1949, khi ta chuyển mạnh sang tổng phản công, các chiến dịch tiến công vào Lào Cai đã làm cho quân đội viễn chinh Pháp bị hoang mang cực độ, nhiều cứ điểm, đồn bốt bị phá vỡ nhưng quân Pháp còn trụ lại được là nhờ có lực lượng thổ ty trung thành với chúng. Lực lượng vũ trang của thổ ty đã trở thành đội quân phản động nhất trong khối ngụy quân của Pháp. Nhiều tên chỉ huy lực lượng thổ ty đã trở thành sĩ quan ngụy như Lý Triều Dương, Châu Quang Lồ, Pò Lem, xếp Chảo... Bọn này khủng bố đàn áp dã man phong trào nhân dân chống Pháp, gây nhiều tội ác đối với đồng bào ta trong vùng tạm bị địch chiếm đóng.
Như vậy trong quá trình chiếm đóng Lào Cai thực dân Pháp đã khai thác triệt để những đặc điểm xã hội chính trị của một vùng miền núi, biên giới, có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống, trình độ nhận thức và đời sống thấp kém, lại bị ảnh hưởng nặng nề bởi các quan niệm cổ hủ (tự ty, tôn sùng những người đứng đầu dòng họ, thủ lĩnh dân tộc) để xây dựng nên mối quan hệ bóc lột giữa tư bản Pháp với bọn thổ ty phong kiến, biến những tên thổ ty được coi như tầng lớp trên của xã hội miền núi thành những tên tay sai đắc lực phục vụ cho mục đích cai trị của chúng. Đặc biệt sau khi tái chiếm Lào Cai thì mối quan hệ đó càng bộc lộ rõ bản chất phản động nhằm chống lại sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta.
Khi thấy rõ thế thua phải rút khỏi biên giới Việt - Trung, thực dân Pháp cấp tốc chuyển chiến lược từ "đánh nhanh thắng nhanh" sang "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh", "dùng người Việt trị người Việt". Ngày 13 tháng 12 năm 1949, chỉ huy khu Tây Bắc đã ra mệnh lệnh số 2286/SANO/3 giao nhiệm vụ cho phân khu Lào Cai phải tìm mọi cách "tổ chức các đơn vị lính dõng và dân chúng võ trang ở lại đánh du kích tại chỗ"1 (Theo Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân Lào Cai, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1998, tr. 194) nhằm quấy rối hậu phương, ngăn cản, hạn chế các đơn vị bộ đội chủ lực của ta tiến công, tạo điều kiện cho quân Pháp rút lui an toàn.
Thực hiện ý đồ đó, từ đầu năm 1950 phân khu Lào Cai ra sức dụ dỗ mua chuộc tuyển mộ lính địa phương tăng cường củng cố khối ngụy quân, ngụy quyền, mở các đợt càn quét vào những vùng có cơ sở của ta để củng cố tinh thần cho binh lính. Đồng thời đẩy mạnh hoạt động đặc vụ, gián điệp dọc tuyến biên giới Việt - Trung, gây rối phá hoại hậu phương của ta.
Ngày 18 tháng 10 năm 1950 tên đại úy Ba - danh, chỉ huy tiểu khu Mường Khương đã đề ra kế hoạch gồm 2 điểm: tuyển về Hà Nội 400 ngụy binh huấn luyện thành lực lượng biệt kích để trở lại tái chiếm Lào Cai; tổ chức các ổ đề kháng ở vùng mới giải phóng (Hoàng Su Phì, Bắc Hà và vùng sẽ được giải phóng như Mường Khương, Pha Long).
Ngày 25 tháng 10 năm 1950 Ba - danh lại ra lệnh cho tàn quân ngụy ở Hoàng Su Phì nổi loạn và giao lại vùng Pha Long - Mường Khương cho tên Châu Quang Lồ chỉ huy 2 đại đội bảo an số 46, 47 ở lại chống ta, còn lực lượng chủ lực của Pháp rút lui khỏi vùng này. Từ đây, việc gây phỉ của thực dân Pháp đã bắt đầu được thực hiện. Chỉ trong 4 tháng (từ 25-10-1950 đến 29-1-1951) ở 3 huyện biên giới Việt - Trung là Hoàng Su Phi (Hà Giang), Bắc Hà, Mường Khương (Lào Cai), lực lượng phỉ đã phát triển tới 2.500 tên1 (Theo báo cáo của mặt trận Lê Hồng Phong số 447/TM ngày 29 tháng 1 năm 1951: Hoàng Su Phì có 800 tên, Bắc Hà có 300 tên, Mường Khương có 700 tên, tàn quân Tưởng có 400 tên (Hoàng Su Phi có 300 tên)) có trang bị vũ khí từ moóc-chi-ê 81, moóc-chi-ê 61, đại liên, tiểu liên và súng trường theo biên chế trang bị của quân đội Pháp. | |
Logged
|
|
|
|
saoden Thành viên  Bài viết: 1096  | 
| Tổng kết công tác tiễu phỉ trên địa bàn tỉnh Lào Cai 1950-1970« Trả lời #3 vào lúc: 28 Tháng Hai, 2023, 02:24:47 pm » | Thời gian này thổ phỉ liên tục tiến công, đánh úp gây cho các đơn vị chủ lực của ta nhiều khó khăn tổn thất. Thấy vậy, tướng Đờ Lát đờ Tát-xi-nhi, tổng chỉ huy quân Pháp đã nâng hoạt động của thổ phỉ thành một trong bốn nhiệm vụ chiến lược để giành lại quyền chủ động đã mất là: phá hoại các vùng tự do bằng biệt kích, thổ phỉ; máy bay oanh tạc; chiến tranh tâm lý, bao vây kinh tế2 (Theo Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, tập 1, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994, tr. 312). Tháng 5 năm 1951 đế quốc Pháp đã chuyển khóa 49 (tình báo, phá hoại) của phân cục viễn đông SDECE thành GCMA (đội biệt kích hỗn hợp nhảy dù) chuyên trách gây phỉ, phá hoại hậu phương của ta.
Ngày 3 tháng 5 năm 1952 GCMA đã thả xuống Pha Long 16 tên biệt kích đặc vụ làm cố vấn cho Châu Quang Lồ xây dựng 2 trung đoàn phỉ ở tỉnh Nùng và lập các tổ đặc vụ hoạt động sâu vào nội địa Trung Quốc. Đặc biệt từ khi hội đồng an ninh quốc gia Mỹ quyết định sử dụng tàn quân Tưởng vào việc phá hoại đường viện trợ quốc tế của ta và quấy rối Trung Quốc1 (Theo lời cung của tên Phơ-răng-xoa, chỉ huy biệt kích nhảy xuống Mèo Vạc bị bắt tháng 7 năm 1952) thì GCMA và đặc vụ Tưởng có sự phối hợp gây phỉ ngày càng chặt chẽ. Thời gian này Pháp - Mỹ - Tưởng đã câu kết gây nên vụ phỉ lớn dọc biên giới Việt - Trung từ Mường Khương (Lào Cai) đến Đồng Văn (Hà Giang). Sau đó ta đã phải tốn rất nhiều công sức phối hợp với Sư đoàn 302 Giải phóng quân Trung Quốc giải quyết gần một năm ròng mới đánh tan được lực lượng phỉ ở vùng này. Năm 1953 đế quốc Pháp lại tiếp tục gây nên vụ phỉ ở các huyện miền tây Lào Cai. Ngày 25 tháng 12 năm 1953, tướng Na-va, người kế nghiệp tổng chỉ huy quân đội Pháp đã tuyên bố: "Tới một thời gian nào đó thì quân đội viễn chinh Pháp phải rút khỏi Đông Dương. Cần phải xây dựng một kế hoạch lập lại các vùng căn cứ du kích ở hậu phương và ở miền núi liên kết với những phần tử chống đối chế độ Việt Minh, hoạt động du kích sau lưng Việt Minh để tạo điều kiện cho quân đội Pháp có thể trở lại". Năm 1954 đế quốc Pháp và can thiệp Mỹ đã thực hiện được âm mưu phỉ hóa nhân dân trên địa bàn Lào Cai. Theo tổng kết của Bộ Công an, toàn miền Bắc có 14 huyện có phỉ với tổng số gần 20.000 tên thì ở Lào Cai chiếm 6 huyện với số lượng 8.788 lượt người đi phỉ, bằng 8% dân số lúc ấy. Tháng 5 năm 1954, trong lúc ta đang tập trung mọi sức lực vào quyết chiến điểm Điện Biên Phủ thì Ăng-ten GCMA Lào Cai đã ra lệnh cho các cụm phỉ ở các huyện trong tỉnh mở một chiến dịch tiến công vào tháng 7 năm 1954, lấy tên là chiến dịch Nguyễn Đình Văn - "Cuộc tấn công tổng quát"1 (Theo lời cung tù binh: thiếu úy biệt kích La Ngọc Kim - hồ sơ Đ5-T13-14). Sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, thiếu tá Phuốc-ni-ê, chỉ huy GCMA Bắc Bộ đã ra lệnh cho các cụm phỉ ở miền tây Lào Cai gồm các huyện Sa Pa, Bát Xát, Phong Thổ và hữu ngạn Bảo Thắng giải thể các đơn vị chiến đấu rút các tên chỉ huy đầu sỏ về Hà Nội theo Pháp hoặc tìm cách sang Lào. Còn các cụm phỉ miền đông ở Bắc Hà, Mường Khương tiếp tục tổ chức vũ trang chống lại ta.
Thực dân Pháp hoàn toàn bị thất bại. Miền Bắc được giải phóng. Đế quốc Mỹ xâm lược nhảy vào miền Nam, kế tục bọn biệt kích gián điệp Pháp là bọn tình báo gián điệp Mỹ thực hiện âm mưu phá hoại miền Bẳc nước ta, trong đó có âm mưu tiếp tục sử dụng bọn phản động ở miền núi. Vào những năm 1959-1960, khi tỉnh Lào Cai đang hoàn thành nhiệm vụ cải cách dân chủ, tiến hành hợp tác hóa ở vùng nông thôn thi các thế lực phản động đã gây ra một số vụ bạo loạn. Điển hình là vụ bạo loạn ở A Lù, Bát Xát tháng 5 năm 1959 và vụ bạo loạn ở Pha Long tháng 9 năm 1960, thành phần tham gia chủ yếu là những tên phỉ cũ chưa chịu cải tạo. Tháng 6 năm 1963 đế quốc Mỹ lại thả xuống xã Phú Nhuận huyện Bảo Thắng và Võ Lao huyện Văn Bàn 13 dù trong đó có 8 dù lương thực, vũ khí và 5 tên biệt kích là người Tày, người Thái ở Hà Giang, Sơn La, Lai Châu đã được huấn luyện ở Sài Gòn đưa về để móc nối với bọn phản động ở Lào Cai thực hiện phá hoại.
Lực lượng phỉ còn lại trên địa bàn Lào Cai từ sau các đợt ta tiếp tục truy quét (1955-1960), một số đã được lệnh của tình báo gián điệp Pháp - Mỹ mang súng về hàng, số khác ngoan cố trốn hẳn vào rừng tụ hợp sinh sống chờ thời cơ (vì chúng vẫn tin tưởng rằng Pháp có thể trở lại hoặc Mỹ sẽ đến) để tiếp tục phá hoại cách mạng. Vì vậy những tên phỉ cuối cùng bị ta truy bắt và ra hàng tháng 5 năm 1970 ở Sa Pa, sau khi nhận thấy khung cảnh thay đổi của địa phương đã nói: "Biết thế này thì chúng tôi ra đầu thú từ lâu cho khỏi khổ"1 (Lời cung của tên Tháo A Đỏa khi ra đầu thú tháng 5 năm 1970). Tất cả những điều đó đã chứng minh: Việc gây dựng thổ phỉ ở một số vùng cao biên giới, trong đó có Lào Cai từ cuối năm 1950 nằm trong hệ thống âm mưu của đế quốc Pháp - Mỹ và bọn phản động quốc tế nhằm chống lại xu thế của thời đại, chống lại con đường cách mạng của Đảng và nhân dân các dân tộc Việt Nam. Chỉ thị số 14/CTTW ngày 16 tháng 4 năm 1955 đã khẳng định: "Vấn đề phỉ là âm mưu lâu dài và thâm độc của đế quốc Pháp - Mỹ - là vấn đề dân tộc, vấn đề quần chúng... Nguyên nhân địch gây được phỉ là do chúng lôi kéo được một số phần tử ở tầng lớp trên của các dân tộc thiểu số, lợi dụng những kỳ thị; thành kiến dân tộc còn tồn tại khá sâu sắc, lợi dụng nguyện vọng thiết tha muốn được cải thiện đời sống của nhân dân, khoét sâu mâu thuẫn, các sơ hở, sai lầm của ta trong việc thực hiện chính sách dân tộc và các chính sách khác".
Nghiên cứu quá trình phát sinh, phát triển của thổ phỉ ở Lào Cai, rút ra kết luận thổ phỉ có 2 nguồn gốc:
Một là: Thổ phỉ ra đời nằm trong âm mưu của đế quốc Pháp và can thiệp Mỹ được hình thành trong thế thua, thế thất bại trên chiến trường, hòng lấy lại thế chủ động đá mất bằng biện pháp gây dựng cơ sở chính trị phản động với đội quân phản động ở những vùng địa thế hiểm trở, có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số nhận thức và đời sống thấp kém dễ lợi dụng, thực hiện chính sách "dùng người Việt trị người Việt" làm căn cứ, bàn đạp để tiến hành chiến tranh xâm lược nước ta, khi chiến lược "đánh nhanh, thắng nhanh" đã bị phá sản (đây là nguồn gốc cơ bản).
Hai là: Thổ phỉ sinh ra còn bắt nguồn từ giai cấp thống trị miền núi đã bị đánh đổ nhưng chưa bị tiêu diệt hoàn toàn, được chủ nghĩa thực dân đế quốc nâng đỡ, kích động hận thù giai cấp, dân tộc ngóc đầu dậy mà đại biểu của nó là các thổ ty, địa chủ mưu toan phục hồi chế độ bóc lột chống lại cách mạng.
Như vậy, thổ phỉ ở Lào Cai có nguồn gốc từ mưu đồ thực dân, phong kiến phản cách mạng, nó không chỉ thuần túy theo nghĩa Hán Việt của từ "thổ phỉ" đồng nghĩa với từ "giặc cỏ" dùng để chỉ một hạng người thường tổ chức võ trang để giết người cướp của như một số người thường hiểu, mà nó là một vấn đề lớn, có liên quan đến các mối quan hệ giai cấp dân tộc, quần chúng của địa phương với chính bản thân nó và quốc tế. | |
Logged
|
|
|
|
saoden Thành viên  Bài viết: 1096  | 
| Tổng kết công tác tiễu phỉ trên địa bàn tỉnh Lào Cai 1950-1970« Trả lời #4 vào lúc: 28 Tháng Hai, 2023, 02:26:10 pm » | II- TÍNH CHẤT CỦA THỔ PHỈ Ở LÀO CAI
1 - Tính chất thù địch giai cấp, phản cách mạng là bản chất chủ yếu của thổ phỉ:
Tính chất thù địch giai cấp, phản cách mạng là bản chất chính trị của phỉ. Nó quyết định mục tiêu chính trị của phỉ: khôi phục lại chế độ thực dân, phong kiến; quyết định thủ đoạn gây phỉ: kết hợp lừa bịp với cưỡng bức: quyết định mối quan hệ cơ bản trong tổ chức của phỉ: thống trị và bị trị. Tính chất này chi phối các tính chất khác của phỉ.
Trên thực tế, mối quan hệ giai cấp giữa tư sản Pháp với thổ ty, địa chủ ở Lào Cai đã được hình thành gần một thế kỷ. Từ khi đế quốc Pháp xâm lược tiến hành xong cuộc chiến tranh chinh phục các thủ lĩnh dân tộc thiểu số, bình định dân cư, thiết lập xã hội thuộc địa nửa phong kiến, cùng với nó là sự thống nhất về địa vị cai trị và quyền lợi, mối quan hệ đó càng trở nên gắn bó mật thiết trong quá trình thực dân Pháp chiếm đóng, duy trì chính sách bóc lột trên địa hạt Lào Cai.
Ngày 9 tháng 3 năm 1945 Nhật làm đảo chính Pháp. Mặc dù bị hất cẳng nhưng Pháp vẫn tăng cường phái đoàn quân sự bên cạnh phe Đồng minh, gọi tắt là phái đoàn 5 ở Côn Minh - Vân Nam - Trung Quốc. Với sự hoạt động của phái đoàn này, thổ ty Lào Cai đã liên lạc, cung cấp tình báo cho Pháp, chuẩn bị cơ sở cho Pháp trở lại Đông Dương. Cách mạng Tháng Tám thành công, ở Lào Cai vừa phải tiêu diệt bọn phàn động Quốc dân đảng vừa phải từng bước tháo gỡ khó khăn để xây dựng chính quyền nhân dân, thì bọn thổ ty không mấy ủng hộ, trái lại chúng đã liên hệ với Pháp để chống lại ta, để đến khi Pháp tái chiếm Lào Cai thì các thổ ty lại được nảm giữ các chức dịch ngụy quân, ngụy quyền, mặc sức bóc lột, đàn áp quần chúng lao động, cái mà chúng đã bị mất, giờ đây có cơ hội lấy lại.
Cuối năm 1950 đế quốc Pháp đẩy mạnh thực hiện chiến lược "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh", "dùng người Việt trị người Việt". Thời gian này, tỉnh Lào Cai đã được giải phóng, tất nhiên quyền lợi, địa vị của tư sản Pháp và thổ ty, địa chủ ở Lào Cai cũng bị mất. Do đó chúng càng chống phá ta một cách quyết liệt. Chỉ sau 37 ngày từ khi Lào Cai được, giải phóng, thực dân Pháp và bọn tay sai đã tổ chức nổi phỉ tấn công đánh chiếm những vùng ta vừa giải phóng. Những tên thống trị thuộc tầng lớp thổ ty, binh thầu, seo phải trước đây lại trở thành những tên cầm đầu thổ phỉ làm tay sai cho đế quốc Pháp mưu toan lập lại chế độ thực dân, phong kiến.
Nhìn lại hệ thống chỉ huy của thổ phỉ ở Lào Cai ta thấy: Bọn cầm đầu từ những tên chỉ huy ở cơ quan GCMA đến các cụm phỉ, toán phỉ chính là tầng lớp thống trị cũ (thổ ty và tay sai) ở địa phương. Cộng tác với GCMA tổ chức chỉ huy phỉ ở Lào Cai chính là những tên cầm đầu các xứ tự trị giả hiệu do Pháp mang đi huấn luyện khi rút lui rồi tung về gâỵ phỉ như: Lý Triều Dương, đại úy GCMA, nguyên chỉ huy ngụy quân xứ Nùng, Nùng Dung Ngán, cộng tác viên dân sự GCMA, nguyên tỉnh trưởng xứ Nùng; Lồ Vạn Tờ, cộng tác viên dân sự GCMA, nguyên phó tỉnh trưởng xứ Nùng; Sề Cồ Tìn, cộng tác viên dân sự GCMA, nguyên tri châu Cốc Lếu tỉnh Phong Thổ. Chỉ huy các cụm trung tâm của phỉ là bọn ngụy quyền cỡ bang tá, châu úy, các sĩ quan ngụy cỡ đại đội trưởng.
Cụm Pha Long: Châu Quang Lồ, châu úy Pha Long kiêm đại đội trưởng bảo an (CLSM) số 47. Cụm Bát Xát: Sề Cồ Ngan, dân tộc Dáy, bang tá Bát Xát. Cụm Sa Pa, Bảo Thắng: Châu A Chùa, lý trưởng; Hồ Vạn Lìn, thiếu úy GCMA (gia đình địa chủ); La Ngọc Kim, thiếu úy GCMA (gia đình địa chủ). Cụm Bắc Hà (1954): Tải Chín Củi, trung úy GCMA. Cụm Phong Thổ: Đèo Văn Ngảnh, phó tỉnh trưởng tỉnh Phong Thổ.
Chỉ huy các cụm tiền phương, các toán phỉ: Thông thường là ngụy quyền cấp xã, tổng (cá biệt có bang tá, phó châu), trung đội trưởng, tiểu đội trưởng ngụy quân là tổng đoàn hoặc xã đoàn. Lực lượng phỉ nòng cốt là số tàn quân ngụy do địch để lại (miền Đông), hoặc dụ dỗ thanh niên vào vùng tạm chiếm huấn luyện rồi tung về (miền Tây).
Như vậy, bộ máy thống trị cũ của chế độ phong kiến ở Lào Cai gồm toàn bộ các chức dịch từ phó lý, tổng đoàn trở lên và từ hai phần ba đến ba phần tư số binh thầu, seo phải (trưởng thôn, xóm và xã đoàn) đã câu kết với Pháp gây nên nạn thổ phỉ.
Không những thế, thổ phỉ ở Lào Cai còn là sự câu kết phản cách mạng của các lực lượng phản động đế quốc Pháp - Mỹ - Tưởng Giới Thạch nhằm chống lại công cuộc kháng chiến của Việt Nam, phá hoại cách mạng Trung Quốc, được thể hiện trong nghị quyết của Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ về "Mục tiêu và đường lối hành động của Mỹ ở Đông Nam Á"1 (Theo tài Liệu mật Bộ quốc phòng Mỹ, tập 1, tr. 39-43). Từ khi Mỹ chính thức can thiệp vào chiến tranh ở Đông Dương2 (Ngày 23 tháng 12 năm 1950 Mỹ ký hiệp định chính thức về viện trợ quân sự với Pháp và bọn bù nhìn ở Đông Dương) thì giữa GCMA, SDECE của Pháp và CIA của Mỹ thường xuyên có sự trao đổi tài liệu tình báo. Theo cung bọn biệt kích bị bắt khai: Mỹ đã cắm một số sĩ quan cấp tiểu đoàn vào GCMA ở Bắc Bộ để chuyên theo dõi việc gây phỉ.
Đối với bọn Quốc dân đảng ở Trung Quốc, từ đầu năm 1950 trên địa bàn Lào Cai đã xuất hiện các tổ chức phản cách mạng lưu vong do tên Lìu Sử Dùng, tham mưu trưởng quân đoàn 26 cầm đầu, lập nhiều tuyến tình báo sang Trung Quốc. Quá trình gây phỉ ở Lào Cai nhiều sĩ quan Quốc dân đảng Trung Quốc đã được thả dù xuống làm cố vấn cho bọn cầm đầu phỉ1 (Lìu Sá Dùng làm cố vấn cho phó châu Bắc Hà, Hàn Sào Lùng và 16 tên tha dù xuống Pha Long ngày 3 tháng 5 năm 1952 đều là đặc vụ, sĩ quan Tưởng Giới Thạch làm cố vấn cho Châu Quang Lồ) dựa vào vùng phỉ của Lô để thâm nhập tình báo sang Trung Quốc). Trong vùng phỉ ở Bát Xát, Phong Thổ còn có các tổ gián điệp hỗn hợp Pháp - Tưởng như tổ của tên Toản Sào Cang, Lý Cha Páo. Trong số phỉ ở Mường Khương, Bắc Hà cũng có một bộ phận là tàn quân Quốc dân đảng Trung Quốc của quân trưởng họ Cheng, sư trưởng họ Thùng, sư trưởng họ Vàng...
Thổ phỉ ở Lào Cai còn là sự câu kết giữa bọn phong kiến phản động trong các dân tộc ít người, dọc hai bên biên giới Việt - Trung. Chúng dựa vào địa bàn giáp ranh để lẩn trốn hoặc cơ động tạo thế bí mật bất ngờ, phối hợp hoạt động rất gắn bó giữa Châu Quang Lồ, Hản Sào Lùng (Việt Nam) với Hản Sào Chúng, Hản Ngấn Sồ, Giàng Cồ Hòa, Lý Thìn Thàng, Hồ Dảo Luần, Chu Tờ Chin... (Trung Quốc); Đèo Văn Ngảnh, Sề Cồ Ngan (Việt Nam) với bọn phỉ Đào Gia Trụ, Ninh Hương Tưởng (Trung Quốc). | |
Logged
|
|
|
|
saoden Thành viên  Bài viết: 1096  | 
| Tổng kết công tác tiễu phỉ trên địa bàn tỉnh Lào Cai 1950-1970« Trả lời #5 vào lúc: 28 Tháng Hai, 2023, 02:27:37 pm » | 2- Tính chất kích động gãy hận thù trong các dân tộc thiểu số:
Điểm nổi bật dễ thấy nhất của phỉ là tính chất kích động mua chuộc gây hận thù. Bất cứ vụ phỉ nào, vùng phỉ nào cũng đều thấy có sự chia rẽ dân tộc hoặc kích động để chia rẽ giữa dân tộc thiểu số này với dân tộc thiểu số khác; đồng thời trương lên các khẩu hiệu phản động núp dưới chiêu bài dân tộc, lợi dụng tâm lý, tình cảm và nhận thức còn hạn chế của một ít đồng bào dân tộc, lợi dụng các quan hệ xã hội, làng bản, dòng họ trong các dân tộc ít người để phục vụ mục đích phản cách mạng.
Với những luận điệu thâm độc xảo quyệt chúng lôi kéo, câu kết từng dân tộc thiểu số chống lại các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, mặt khác để phỉnh phờ cưỡng bức, mua chuộc con em người dân tộc theo phỉ. Do đó phỉ thường được tổ chức trong từng vùng, từng dân tộc.
Lợi dụng lòng mong muốn có vũ khí để tự vệ chống trộm cướp ở biên giới và lòng tự hào về bản lĩnh quân sự của người dân tộc, những tên trùm phỉ đã dụ dỗ nhân dân đi lĩnh súng chỉ để giữ nhà, giữ làng, khi nào cần lắm "quan" mới tập trung ít ngày. Chỉ cần như vậy chúng đã trang bị vũ khí được cho đông đảo quần chúng. Trong giao tiếp, bọn cầm đầu phỉ rất chú ý dùng những câu nói đi vào tâm lý tình cảm để mua chuộc và ra sức ca ngợi những tên ngụy quyền được Pháp dựng lên cầm đầu các xứ tự trị, coi chúng như thu lĩnh để kích động.
3- Tính chất lợi dụng lôi kéo quần chúng của vấn đề phỉ:
Điểm lại từ khi bắt đầu gây phỉ ở Lào Cai, đế quốc Pháp đã gây ra 4 vụ phỉ thu hút gần 10.000 lượt người cầm súng. Những nơi tập trung như 8 xã ở khu Pha Long huyện Mường Khương số người theo phỉ chiếm 13,2% dân số, xã Tả Ngài Chồ quê hương của Châu Quang Lồ có tới 23,8% dân số theo phỉ. Tổng kết cuộc vận động phá âm mưu đế quốc tháng 9 năm 1955 ở 5 xã khu vực Trịnh Tường huyện Bát Xát và 3 xã khu Lùng Phình, Bắc Hà dân số có 3.501 người thì có 450 phỉ, bình quân cứ 8 người thì có một phỉ; ở Sa Pa vụ phỉ năm 1954 chỉ trừ thị trấn Sa Pa và xã Thanh Phú, còn lại các xã khác hầu như nhà nào cũng có người đi phỉ.
Tuy số người tham gia đông như vậy nhưng bọn có quyền lợi giai cấp phản động cầm đầu lại chiếm tỷ lệ rất ít. Ở Pha Long chỉ có hơn 40 tên chức dịch cầm đầu chiếm 1% dân số, còn đa số người theo phỉ là nhân dân lao động bị cưỡng bức, lừa gạt hoặc bị mua chuộc theo phỉ, do đó mà quyền lợi của họ đối lập với bọn cầm đầu phỉ. Tất nhiên còn một bộ phận bị đầu độc, trung thành với mục tiêu của bọn trùm phỉ, những tên này tàn bạo và chống phá cách mạng quyết liệt.
Mối quan hệ giữa dân và phỉ là mối quan hệ mâu thuẫn phức tạp. Vì mục đích của thổ phỉ là lập lại chế độ thống trị cũ, đàn áp bóc lột nhân dân, bọn cầm đầu phỉ là tầng lớp thống trị cũ nhưng dân lúc đầu chưa nhận thức được bạn và thù nên quần chúng các dân tộc lại ủng hộ phỉ, đi ngược lại quyền lợi của bản thân, nhẫn nhục theo chúng. Một lý do thuần túy để chúng huy động được nhân dân trước hết là lôi kéo người trong họ, trong làng bản và khống chế quần chúng bằng lệ "ăn ước", bằng khủng bố, tàn sát. Khi Châu Quang Lồ phải chịu trách nhiệm trước đế quốc Pháp ở lại chống đối Việt Minh, Lồ đã triệu tập một cuộc họp gồm các chức dịch khu Pha Long dưới hình thức "ăn ước" để giúp lấy quân. Một số thổ ty nhỏ không có thế lực, tuy không có ý thức phản cách mạng nhưng vẫn bị ràng buộc phải giúp Châu Quang Lồ theo "nghĩa vụ", ở vùng biên giới các dân tộc thường có lệ "ăn ước" hàng năm vào ngày 2 tháng 2 âm lịch, mỗi gia đình phải góp một trai tráng với vũ khí tự sắm để cùng nhau chống trộm cướp. Nói rõ hơn, điều quy ước này là "mỗi nhà góp một chiến binh khi có biến", những người nào làm sai phải đền lễ cúng thần khi "ăn ước", trường hợp làm phản có thể bị xử tử. Dựa vào đó chúng bắt buộc mỗi nhà phải có một người đi lính phỉ. Ở vùng thấp, thì chịu lệ "cấy ruộng công" phải có người đi lính phỉ, không đi sẽ bị thu ruộng. Do gắn bó với ruộng đất nên nhiều người không muốn đi cũng phải cầm súng1 (Người dân tộc đã phải than vãn rằng: "Không đi quan thu ao, Không đi quan thu ruộng, Đi thì khổ đời mình").
Vì lợi dụng mối quan hệ làng bản, dân tộc cần thiết phải đoàn kết chống thiên tai, giặc giã ấy mà bọn phản động đã nhanh chóng huy động được đồng loạt trai tráng đi lính phỉ, ràng buộc nhân dân bảo vệ phỉ, cung cấp tin tức cho phỉ. Nếu tính cả những người có anh em ruột thịt phải đi lính phỉ, phải bảo vệ phỉ, nuôi dưỡng phỉ, do thám cho phỉ thì năm 1954 thực dân Pháp và bọn tay sai phản động cơ bản đã thực hiện được âm mưu "thổ phỉ hóa nhân dân" ở 5 trong số 6 huyện của tỉnh Lào Cai. Thực tế cũng cho thấy những lúc bình thường phỉ ở trong dân dựa vào dân, việc thả dù cung cấp của Pháp là chưa cần thiết và không có tác dụng, chỉ đến lúc nổi phỉ thì việc thực dân Pháp cung cấp lương thực, thực phẩm, vũ khí đạn dược, phương tiện chiến tranh bao nhiêu mới có ý nghĩa thúc đẩy, cổ vũ hành động của thổ phỉ bấy nhiêu. Đồng thời chính những thời điểm này chúng lại lợi dụng vật chất để mua chuộc nhiều người khó khăn về đời sống phải đi theo phỉ. Nhưng dù số lượng quần chúng có tham gia đông đảo đến đâu cũng chỉ là số quần chúng nhận thức thấp kém bị bọn phản động dụ dỗ, mua chuộc lừa gạt, cưỡng bức. Nếu được giáo dục đầy đủ để họ nhận ra thì sớm hay muộn họ cũng đứng về phía cách mạng để đánh kẻ thù chung là bọn đế quốc tay sai cường quyền ác bá giành lại hạnh phúc ấm no.
Tóm lại: Nghiên cứu tính chất của thổ phỉ ở Lào Cai còn nhiều vấn đề phức tạp nhưng tựu chung lai thổ phỉ mang tính chất thù địch giai cấp phản cách mạng; tính chất kích động hận thù trong các dân tộc; tính chất lợi dụng lôi kéo "quần chúng" và vấn đề dân sinh. Ba tính chất đó có mối quan hệ ràng buộc với nhau, tác động trực tiếp đến nhau nhưng tính chất thù địch giai cấp, phản cách mạng của phỉ là sự phản ánh bản chất giai cấp của thổ phỉ và quyết định sự phát sinh, phát triển hoặc tan rã của chúng.
Từ việc xác định tính chất của thổ phỉ, có thể rút ra một khái niệm về thổ phỉ như sau: Thổ phi là một tổ chức phản động nằm trong âm mưu của chủ nghĩa đế quốc. Hoạt động vũ trang bạo loạn phản cách mạng do thù địch giai cấp, nhằm phục hồi chế độ bóc lột đã bị đánh đổ. Ra đời trong thế thất bại, nhưng lôi kéo được đông đảo quần chúng các dân tộc ít người ở miền núi biên giới, nơi cơ sở chính trị của ta còn non yếu, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn dễ bị địch lợi dụng. |
|
|