Xác định đấu tranh giải quyết FULRO là nhiệm vụ trọng tâm, gay go và quyết liệt, nên ngay sau ngày miền Nam được giải phóng, Đảng, Nhà nước đã dừng lực lượng vũ trang tiến công các căn cứ, các toán, cụm chỉ huy cầm đầu, các đơn vị vũ trang FULRO. Kết quả đã làm cho tổ chức, lực lượng FULRO bị thiệt hại nặng nề, đẩy lùi mưu đồ vũ trang lật đổ chính quyền cách mạng, đẩy chúng vào thế bị động, lúng túng. Tuy nhiên, công tác đấu tranh giải quyết FULRO vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội cho nhân dân các tỉnh Tây Nguyên và phụ cận sau giải phóng. Ngày 2 tháng 2 năm 1977, Ban Bí thư Trung ương ra Chỉ thị số 04/CT-TW "Về việc tiếp tục phát động quần chúng xây dựng cơ sở chính trị, truy quét FULRO, bảo vệ an ninh chính trị ở các tỉnh Tây Nguyên và Nam Khu V cũ". Chỉ thị xác định rõ vấn đề FULRO không phải đơn thuần là vấn đề quân sự mà chủ yếu là vấn đề chính trị, phải được giải quyết một cách cơ bản lâu dài. Quán triệt quan điểm, chủ trương của Đảng, chỉ đạo của Nhà nước, chúng ta đã huy động nhiều lực lượng, sử dụng tổng hợp các biện pháp để đấu tranh giải quyết FULRO. Vận dụng phương pháp đấu tranh kết hợp chặt chẽ giữa vận động quần chúng, đấu tranh truy quét với thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo nhằm phát triển toàn diện vùng dân tộc thiểu số Tây Nguyên. Trong đó, công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho nhân dân gắn với chăm lo phát triển kinh tế - xã hội là then chốt. Nhờ có biện pháp đúng, phương pháp đấu tranh phù hợp đã làm cho FULRO tan rã hoàn toàn về tổ chức, lực lượng và tuyên bố chấm dứt hoạt động vào cuối năm 1992.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, hoạt động đấu tranh giải quyết FULRO của lực lượng vũ trang và nhân dân các dân tộc Tây Nguyên, vùng duyên hải miền Trung và đồng bào dân tộc Chăm từ năm 1975 đến năm 1992 diễn ra phong phú, sinh động trên nhiều lĩnh vực, nhưng cũng đầy khó khăn, gian khổ và hy sinh, từng bước giành được những thắng lợi to lớn, góp phần làm thất bại âm mưu chia cắt đất nước, phá hoại khối đại đoàn kết dân rộc, gây mất ổn định an ninh trật tự của FULRO và các thế lực thù địch trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên và phụ cận. Đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về đấu tranh giải quyết FULRO. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về hoạt động đấu tranh này. Do vậy, việc nghiên cứu để hiểu đúng bản chất FULRO, nguyên nhân, điều kiện hình thành, phát triển và tồn tại, âm mứu, thủ đoạn hoạt động của chúng, cũng như làm rõ các hoạt động đấu tranh của ta, để từ đó đúc rút những bài học kinh nghiệm trong giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo ở Tây Nguyên và vùng phụ cận là việc làm hết sức cần thiết, góp phần bổ sung cơ sở lý luận và thực tiễn trong xây dựng, củng cố cơ sở chính trị, xây dựng thế trận quốc phòng, an ninh trên địa bàn Tây Nguyên.
Hiện nay, FULRO đã tan rã về tổ chức và lực lượng chấm dứt hình thức công khai hoạt động chính trị và hoạt động vũ trang trong nội địa, nhưng chúng vẫn còn cơ sở xã hội, tư tưởng, tâm lý nhất định. Ở bên ngoài vẫn còn hàng trăm đối tượng FULRO lưu vong được các thế lực nuôi dưỡng. Với những điều kiện đó, các thế lực thù địch vẫn còn khả năng khai thác, lợi dụng vấn đề FULRO để tiếp tục hoạt động, khống chế, kích động, lừa bịp, lôi kéo đồng bào dân tộc thiểu số nhẹ dạ cả tin đi theo, dựng nên cái gọi là "Nhà nước Đề Ga" độc lập, mưu toan chia cắt đất nước, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, chống phá cách mạng Việt Nam.
Từ yêu cầu đó, Viện Lịch sử quân sự tổ chức nghiên cứu, biên soạn cuốn sách "Tổng kết hoạt động đấu tranh giải quyết FULRO (1975 - 1992)" được thể hiện qua 3 phần, tập trung vào những yếu tố tác động đến hoạt động đấu tranh giải quyết FULRO, diễn biến hoạt động đấu tranh, đánh giá những ưu, khuyết điểm và đúc rút những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn đấu tranh giải quyết FULRO.
Quá trình nghiên cứu, mặc dù Ban Biên soạn đã có nhiều cố gắng, nhưng do năng lực nghiên cứu của nhóm tác giả còn ở mức độ nhất định và nhiều tài liệu chưa được khai thác nên cuốn sách khó tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế. Chúng tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của bạn đọc.
Nhân dịp cuốn sách được xuất bản, Viện Lịch sử quân sự chân thành cảm ơn các nhà khoa học đã đóng góp nhiều ý kiến xây dựng; cảm ơn các cơ quan, đơn vị và Nhà xuất bản Quân đội nhan dân đã cộng tác, giúp đỡ để cuốn sách ra mắt bạn đọc.
VIỆN LỊCH SỬ QUÂN SỰ | |
Logged
|
|
|
|
saoden Thành viên  Bài viết: 1096  | 
| Tổng kết hoạt động đấu tranh giải quyết Fulro 1975-1992« Trả lời #2 vào lúc: 25 Tháng Năm, 2023, 08:18:08 am » | Phần thứ nhất NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG ĐẤU TRANH GIẢI QUYẾT FULRO (1975 -1992)
I. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN HOẠT ĐỘNG CỦA FULRO
1. Đặc điểm tự nhiên
Tây Nguyên là vùng đất nằm ở phía tây Nam Trung Bộ, có diện tích trên 54.400km2 (chiếm 16,3% diện tích cả nước) nằm trải dài theo phía nam của dãy Trường Sơn. Tây Nguyên hiện nay gồm 5 tỉnh là Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng; phía đông giáp các tỉnh đồng bằng ven biển miền Trung (Quảng Ngãi, Bình Đinh, Phú Yên, Khánh Hòa); phía tây giáp Bình Phước và 2 nước Lào, Campuchia; phía nam tiếp giáp các tỉnh miền Đông Nam Bộ (Bình Thuận, Ninh Thuận, Đồng Nai); phía bắc giáp với tỉnh Quảng Nam. Đặc biệt, Tây Nguyên có biên giới với 2 nước Lào và Campuchia dài hơn 580km, do vậy khu vực này càng có ý nghĩa to lớn về quốc phòng - an ninh.
Địa hình Tây Nguyên đa dạng gồm nhiều cao nguyên xếp xen kẽ núi cao, sông suối và thung lũng, độ cao trung bình từ 400 đến 800m so với mặt nước biển, có nhiều dãy núi cao trên dưới 2.500m và nhiều cao nguyên có độ cao khác nhau từ 300 đến 1.000m. Đặc điểm này đã dẫn đến sự phân bố dân cư thưa thớt, điều kiện cho FULRO hoạt động, ẩn náu, nhất là vùng Lâm Đồng, FULRO ẩn náu trong các hang sâu, rừng rậm, gây khó khăn cho ta trong việc phát hiện và truy quét.
Về giao thông, từ Tây Nguyên có thể tỏa đi các hướng ra Bắc vào Nam, xuống đồng bằng ven biển và sang 2 nước Lào, Campuchia, với nhiều quốc lộ, tỉnh lộ nối liền các huyện, các tỉnh với nhau. Từ cực Đông sang cực Tây của Tây Nguyên có nơi đến gần 200km đường giao thông, do đó việc di chuyển, bao vây, chia cắt FULRO cũng bị ảnh hưởng.
Tây Nguyên chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa Tây Nam với 2 mùa rõ rệt. Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, đất se cứng, sông suối khô cạn trời quang mây, thuận lợi cho việc giao thông, điều kiện để FULRO lợi dụng hoạt động chống phá. Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10. Những tháng mưa nhiều thường gây ra lũ lụt làm cho việc cơ động lực lượng, di chuyển gặp nhiều khó khăn, nhưng đối với FULRO chúng rất thông thuộc địa hình, nên việc cơ động, luồn lách, di chuyển của chúng làm ta rất khó phát hiện.
Hệ thống sông hồ Tây Nguyên nhiều, hẹp, lắm thác ghềnh, tốc độ dòng chảy lớn, có nhiều hồ nước lớn tự nhiên, hình thành bởi những túi trũng chứa nước từ các dãy núi. Do đó, ít có giá trị giao thông, song lại rất cơ động trong việc di chuyển, ẩn náu. Thảm thực vật ở Tây Nguyên rất phong phú về chủng loại, giàu có về khối lượng, độ che phủ rừng còn rất lớn, bao gồm rừng nguyên sinh, rừng thưa, thảm cỏ, rừng cây công nghiệp.
Với đặc điểm địa lý tự nhiên như vậy, Tây Nguyên có vị trí đặc biệt quan trọng về an ninh, quốc phòng và được mệnh danh là "mái nhà của Đông Dương". Các nhà quân sự Pháp, Mỹ từng đánh giá: "Ai làm chủ được Tây Nguyên sẽ làm chủ Đông Dương", "Nắm được Tây Nguyên sẽ khống chế được toàn bộ vùng duyên hải miền Trung, cũng như cửa ngõ Sài Gòn, vùng Đông Nam Bộ; khống chế khu vực ngã ba biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia"1 (Bộ Quân lực - Bộ Tư lệnh Quân lực (1965), Kế hoạch đối phó, triệt phá các căn cứ mật Khu V ở Trung Nguyên Trung phần, Trung tâm lưu trữ Quốc gia II, ký hiệu: PTTg 15234).
Gắn với Tây Nguyên còn có các khu vực phụ cận gồm miền núi các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa và vùng dân tộc Chăm ở duyên hải miền Trung, với địa bàn tập trung chủ yếu của FULRO là Ninh Thuận và Bình Thuận (Thuận Hải cũ). Địa hình vùng phụ cận và duyên hải miền Trung vừa có đồi núi cao, hiểm trở, vừa có đồng bằng nhỏ và cồn cát, hệ thống sông ngòi ngắn và dốc, bờ biển sâu với nhiều đoạn khúc khuỷu, có đồng bằng nhỏ và cồn cát, đất nhiễm mặn ven biển. Vùng phụ cận có vị trí địa lý tự nhiên quan trọng bởi sự kết nối với cao nguyên, biên giới ở phía Tây, có hàng trăm kilômét bờ biển và án ngữ trên trục đường giao thông chính từ Bắc vào Nam.
Nhìn chung, những yếu tố của đặc điểm địa lý tự nhiên các tỉnh Tây Nguyên, phụ cận và duyên hải miền Trung, địa hình phức tạp, giao thông khó khăn, khí hậu 2 mùa khác biệt... là điều kiện thuận lợi cho FULRO ẩn náu, di chuyển và hoạt động bám sâu vào quần chúng. Do đó, cuộc đấu tranh giải quyết FULRO của ta kéo dài và phức tạp hơn. | |
Logged
|
|
|
|
saoden Thành viên  Bài viết: 1096  | 
| Tổng kết hoạt động đấu tranh giải quyết Fulro 1975-1992« Trả lời #3 vào lúc: 25 Tháng Năm, 2023, 08:19:08 am » | 2. Đặc điểm dân cư, dân tộc và tôn giáo
Trong lịch sử, Tây Nguyên chỉ có các nhóm tộc người thiểu số cư trú, họ được coi là những người cư dân bản địa, có quá trình phát triển lâu đời ở vùng đất này. Cộng đồng cư dân Tây Nguyên cơ bản định hình, bao gồm những nhóm tộc người thuộc hệ Nam Á (Ba Na, Hrê, Xê Đăng, Cơ Ho, M’nông, Mạ, Giẻ Triêng, Brâu, Rơ Măm) và những nhóm người thuộc hệ ngữ Nam Đảo (Gia Rai, Ê Đê, Chu Ru, Raglai). Lãnh thổ của từng tộc người bản địa cũng khá rõ rệt. Bắc Kon Tum là nơi quần tụ của người dân tộc Xê Đăng, Hrê, Giẻ Triêng; khu vực Kon Tum, Pleiku là nơi cư trú của người Ba Na, Gia Rai; Đắk Lắk là quê hương của người Ê Đê, M’nông và Lâm Đồng có những điểm khá quần tụ của dân tộc Co' Ho, Mạ, Chu Ru.
Tây Nguyên ngày nay có hầu hết các thành phần dân tộc của cả nước, sống rải rác ở 5 tỉnh. Trong đó, nhóm dân cư tại chỗ chiếm 14% dân tộc thiểu số cả nước và khoảng 24% dân số Tây Nguyên (2004). Một số dân tộc có mối quan hệ thân tộc, tôn giáo với cư dân ở quốc gia láng giềng và một số đồng tộc đã chuyển cư ra nước ngoài sinh sống. Bên cạnh bộ phận dân cư tại chỗ, nhóm dân cư mới đến sau năm 1975 trở lại đây gồm người Kinh (Việt) và người dân tộc thiểu số các tỉnh miền núi phía Bắc và duyên hải miền Trung chiếm khoảng 76% dân số (2004), trong đó tộc người Kinh (Việt) chiếm khoảng 67% dân số, là thành phần tộc người đa số của toàn vùng Tây Nguyên. Hiện nay, xu hướng cư trú đan xen giữa các dân tộc thiểu số với nhau và dân tộc thiểu số với dân tộc Kinh (Việt) ngày càng tăng.
Việc di cư dân từ nơi khác đến Tây Nguyên đã làm cho không gian cuộc sống của người dân tại chỗ bị thu hẹp, đất đai - tư liệu sản xuất chính của họ ngày càng khan hiếm, dẫn đến thiếu đất sản xuất và đất ở. Đây là điều kiện để FULRO và phần tử xấu lợi dụng kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, ly khai, tự trị.
Dân tộc Chăm (còn có tên gọi khác là Chàm, Chiêm, Chiêm Thành, Chăm Pa, Hời...) theo số liệu tổng điều tra dân số năm 2009 có 161.729 người, tập trung ở Ninh Thuận và Bình Thuận (khoảng 70%) và một bộ phận ở Châu Đốc - An Giang, Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh1 (Bộ Công an, Tổng kết lịch sử cuộc đấu tranh giải quyết vấn đề FULRO Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2000, tr.9). Đây là dân tộc cùng ngữ hệ Nam Đảo (Malayo - Polynéxia) với một số tộc người ở Trung Tây Nguyên như Ê Đê, Gia Rai, Chu Ru. Trong lịch sử, người Chăm đã từng có vương quốc riêng - Vương quốc Chăm Pa, nằm dọc theo khu vực Trung và Nam Trung Bộ ngày nay. Nhưng trải qua hàng trăm năm biến thiên của lịch sử, hiện nay người dân tộc Chăm là 1 trong 54 dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, cư trú chủ yếu ở các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Ninh Thuận, Bình Thuận. Lịch sử đó đã để lại trong người Chăm ý thức mặc cảm về dân tộc, dễ bùng lên khi bị xúc phạm hoặc bị các thế lực thù địch, phản động kích động.
Về tín ngưỡng, tôn giáo, đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên trước đây chủ yếu theo tín ngưỡng đa thần, vạn vật hữu linh. Tập tục cúng Yàng (trời), cúng thần đến nay vẫn còn bị ảnh hưởng, chi phối nhất định trong đời sống tâm linh của họ, là yếu tố củng cố sự cố kết cộng đồng, duy trì đạo đức truyền thông và trật tự trong các buôn làng. Tuy nhiên, với sự phát triên mạnh mẽ của các tôn giáo, xu hướng từ bỏ tín ngưỡng truyền thống để theo tôn giáo độc thần ngày một gia tăng.
Cùng với quá trình xâm lược, thống trị Tây Nguyên, bọn thực dân, đế quốc sớm đưa Kitô giáo vào vùng này. Ngay từ giữa thế kỷ XVIII, một số nhà truyền đạo người Pháp đã đến truyền bá đạo Thiên Chúa trong vùng đồng bào dân tộc Ba Na, Xê Đăng ở khu vực Kon Tum, vùng dân tộc Ê Đê ở Buôn Ma Thuột. Chúng xây dựng trung tâm truyền giáo, lập "Hội truyền giáo", lôi kéo nhiều người theo đạo và đào tạo một số tu sĩ cốt cán người Thượng.
Từ năm 1930, các giáo sĩ nước ngoài thuộc Hội truyền giáo (CMA)1 (Tên tiếng Anh của tổ chức này là: The Christian and Missionnary Alliance, dịch sang tiếng Việt là: Hiệp hội Cơ đốc và Truyền giáo, hay còn gọi là Hiệp hội Phúc âm và Truyền giáo hoặc Hội truyền giáo CMA) bắt đầu tổ chức những hoạt động truyền giáo, phát triển đạo Tin Lành ở Tây Nguyên, nhất là vùng đồng bào dân tộc Cơ Ho, Gia Rai, Ê Đê... Mặc dù du nhập vào Tây Nguyên muộn hơn so với Công giáo, nhưng đạo Tin Lành lại phát triển khá nhanh, thu hút được tín đồ người dân tộc thiểu số xây đựng nhà thờ, các cơ sở kinh tế - xã hội và lập ra tổ chức giáo hội riêng cho người Thượng: "Hạt Thượng du" thành lập năm 1959 và sau đó tách ra thành 2 trung tâm truyền đạo là "Trung Thượng Hạt" đặt trụ sở tại Buôn Ma Thuột và "Nam Thượng Hạt" ở Đà Lạt.
Người Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận chủ yếu theo đạo Bàlamôn (một bộ phận nhỏ người Chăm ở đây theo đạo Islam truyền thống gọi là Chăm Bàni). Bộ phận cư trú ở một số địa phương thuộc các tỉnh Tây Ninh, An Giang, Đồng Nai và Thành phố Hồ Chí Minh theo đạo Islam (Hồi giáo). Đó là những tôn giáo hòa quyện với dân tộc từ rất lâu. Lễ nghi, sinh hoạt tôn giáo có ảnh hưởng sâu sắc trong cuộc sống mọi mặt của người dân. Các chức sắc và thánh đường, đền tháp được người dân kính trọng và sùng bái.
Quan hệ xã hội, gia đình người Chăm mang truyền thống mẫu hệ, mặc dù xã hội Chăm trước đây là xã hội đẳng cấp, phong kiến ở những vùng theo Hồi giáo Islam, tuy gia đình đã chuyển sang phụ hệ, vai trò nam giới được đề cao, nhưng những tập quán mẫu hệ vẫn tồn tại khá đậm nét trong quan hệ gia đình, dòng họ với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Cư dân Chăm vốn được phân thành 2 thị tộc Cau và Dừa. Về sau thị tộc Cau biến thành tầng lớp của những người bình dân, trong khi thị tộc Dừa trở thành tầng lớp của quý tộc và tăng lữ. Xã hội cổ truyền Chăm được phân thành các đẳng cấp như xã hội Ấn Độ cổ đại, họ có những vùng cư trú riêng và có những ngăn cách rõ rệt: Không được thiết lập quan hệ hôn nhân, không sống cùng một xóm, không ăn cùng một mâm...
Nhìn chung, tình hình tôn giáo ở các tỉnh Tây Nguyên, phụ cận và duyên hải miền Trung khá phức tạp. Trong số các tôn giáo chính ngày nay, các tín đồ đạo Cao Đài, Đạo Phật, Đạo Hồi và Bàlamôn chấp hành khá tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đạo Tin Lành và Công giáo là 2 tôn giáo có đông tín đồ người dân tộc thiểu số, có lịch sử phát triển gắn liền với quá trình xâm lược của thực dân, đế quốc và đã từng phục vụ đắc lực cho cuộc chiến tranh xâm lược và thống trị của chúng trên địa bàn Tây Nguyên. Vì vậy, nó để lại những dấu ấn và nhiều vấn đề lịch sử phức tạp, ảnh hưởng nhất định trong đời sống xã hội nới đây. Đó cũng là điều kiện thuận lợi để FULRO lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng. | |
Logged
|
|
|
|
saoden Thành viên  Bài viết: 1096  | 
| Tổng kết hoạt động đấu tranh giải quyết Fulro 1975-1992« Trả lời #4 vào lúc: 25 Tháng Năm, 2023, 08:19:42 am » | 3. Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội
Trình độ phát triển kinh tế - xã hội của người Chăm và các dân tộc thiểu số Tây Nguyên nói chung còn thấp và không đều. Kinh tế nông nghiệp là chủ đạo, kết hợp với thu nhặt lâm thổ sản; sản xuất phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên và vẫn mang tính tự cung tự cấp là chủ yếu; kinh tế hàng hóa chưa phát triển. Do đó, đời sống của họ còn bấp bênh, thiếu thốn, đói nghèo.
Sau ngày miền Nam được giải phóng, đặc biệt từ năm 1986, khi Đảng, Nhà nước bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới, đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số ở đây ngày càng được nâng cao. Tuy nhiên, xu hướng chênh lệch về trình độ phát triển và mức sống, phân hóa giàu nghèo giữa đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ với các cư dân nơi khác đến, nhất là người Kinh lại càng gia tăng. Đó là những vấn đề mà FULRO lợi dụng để chia rẽ, tuyên truyền, kích động, lôi kéo đồng bào dân tộc thiểu số ly khai, chống phá cách mạng trên địa bàn Tây Nguyên và phụ cận.
Về giáo dục - đào tạo, trước ngày giải phóng, do ảnh hưởng nặng nề của chính sách chia để tri và chính sách ngu dân của Pháp và Mỹ mà nền giáo dục cả Tây Nguyên và vùng phụ cận nói chung rất thấp. Đó là nền giáo dục vừa mất cân đối về nhiều mặt, vừa phản động về nội dung. Sau giải phóng, Đảng và Nhà nước đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách phát triển giáo dục đào tạo như: Chương trình xóa mù chữ, chương trình phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở, mở nhiều trường dân tộc nội trú và có nhiều chế độ ưu đãi với con em người dân tộc thiểu số nhằm năng cao dân trí cho đồng bào dân tộc. Tuy nhiên, nhiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở đó vẫn chưa quan tâm nhiều đến việc học hành của con em họ. Do đó, so với các vùng khác, tỷ lệ thất học và tái mù chữ còn rất cao.
Về hôn nhân, gia đình, ảnh hưởng của chế độ mẫu hệ vẫn còn phổ biến ở nhiều dân tộc. Ở đó, người phụ nữ có vai trò, vị trí quan trọng trong gia đình cũng như xã hội. Quan hệ láng giềng, gia đình gắn bó sâu sắc. Đặc biệt, mọi cá nhân đều gắn với buôn làng cả về đời sống vật chất lẫn tinh thần. Trong tổ chức làng truyền thống, có những người đứng đầu như chủ đất, chủ bến nước, thống lĩnh quân sự, người xét xử theo tòa án phong tục... Đó là những người được dân làng tín nhiệm cử ra, do đó họ có kinh nghiệm trong sản xuất, chiến đấu, am hiểu phong tục tập quán dân tộc. Họ hầu như không có đặc quyền, đặc lợi, nhưng có thể chi phối đến đời sống sinh hoạt của cộng đồng.
Về mặt văn hóa, tâm lý dân tộc, lịch sử đã để lại cho đồng bào Chăm và dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên một nền văn hóa lâu đời và ý thức cấu kết cộng đồng dân tộc - "ý thức cộng đồng buôn làng" rất sâu sắc. Đây vừa là rào chắn ngăn chặn FULRO xâm nhập hiệu quả nhưng cũng là hàng rào bảo vệ vững chắc cho FULRO ăn sâu bám rễ trong dân khi mà đồng bào tin theo FULRO.
Như vậy, với yếu tố nội tại của đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên và phụ cận, trình độ dân trí thấp, tôn giáo phức tạp lại bị ảnh hưởng sâu đậm về tư tưởng do chế độ cai trị lâu dài của thực dân đế quốc để lại mà khi FULRO lợi dụng, lôi kéo đã có đông đồng bào tin và theo FULRO chống phá cách mạng. |
|
|