13 giờ, Hùng và Khánh có mặt. Tôi đặt tấm bản đồ 1:100.000 xuống đất. Mấy đồng chí thương binh ở gần đó cũng lần tới nghe. Tôi chỉ vị trí K17 và vị trí của trạm đang ở Núi Chùa, chỉ vị trí bọn địch đã đổ quân chốt chặn. Sau đó vạch một con đường trên bản đồ và giải thích: “Ta sẽ xuất phát tại đây (gọi là điểm A) đi hướng tây gặp suối Đập Làng, ngược suối Đập Làng đi về hướng bắc xuyên qua Yên Ngựa giữa cao điểm 602 và 550, xuống dốc gặp suối khô, đi tiếp hướng tây nam gặp một suối khô khác tạo thành chữ Y, đi xuống một quãng là suối Đá Tượng. Hạ lưu suối Đá Tượng là K17”. Thấy anh em có vẻ chưa hiểu, tôi nói thêm: “Phải kết hợp bản đồ và địa bàn để không bị chệch hướng. Chệch hướng là đi vào chỗ địch phục kích ngay. Để khênh được thương binh phải chọn bình độ vừa phải mà đi. Bình độ vẽ trên bản đồ thể hiện độ cao thấp. Đường bình độ vẽ thưa là triền núi thoai thoải dễ đi. Đường bình độ vẽ dày là triền núi dựng đứng, khó đi. Lại phải chú ý màu sắc ở bản đồ. Chỗ màu xanh sẫm là rừng già, chỗ màu vàng là đồi tranh. Suối khô là nét màu xanh đứt quãng, suối có nước là nét màu xanh liền mạch... Kinh nghiệm của tôi, nếu giữa hai đường bình độ mà kẻ được một đường bút chì là đi tốt, kẻ được 2 đường bút chì là đi dễ. Còn đường bình độ sít nhau là dốc trên 45 độ, không thể khênh thương được.”
Sau khi giới thiệu trên bản đồ, chúng tôi bắt đầu xuất phát. Tôi đi trước, trong tay cầm la bàn. Hùng và Khánh đi sau phát cây đánh dấu. Tới ngã ba suối khô hình chữ Y, tôi dừng lại đặt bản đồ, kiểm tra thấy đúng. Khánh và Hùng mừng vui với vẻ thán phục. Tôi nói: “Từ đây chỉ một đường dọc suối đi xuống là tới K17. Các đồng chí nhớ lấy.” Tất cả chúng tôi quay lại để kịp chuẩn bị cho ngày mai chuyển thương. Mặc dù đã đi khá nhanh nhưng đến tối mịt chúng tôi mới xuống hết dốc. May trời có trăng nên dò dẫm hơn 1 tiếng đồng hồ mới về tới trạm. Mọi người đổ xô tới hỏi: “Đã thông đường chưa?” Hùng trả lời: “Thông được một nửa, nhưng các anh cứ ngủ ngon, mai còn lên đường sớm.” Tôi chuẩn bị đi ngủ thì thấy đồng chí Thứ tới. Tôi hỏi: “Sao anh không đi nghỉ.” Thứ trả lời: “Tôi chờ anh. Báo cáo trưởng ban cho tôi đi chuyển thương vì đợt này đông và có ca phải cõng. Chỉ có tôi và đồng chí Cừ là đủ sức cõng. Hai người thay nhau cõng mới bảo đảm”. Tôi hoanh nghênh và đề nghị Thứ chuyển thương. Nếu có gì khó khăn thì đưa bản đồ cho đồng chí Thịnh, cán bộ tác chiến bị thương sẽ giúp xác định phương hướng. Tôi và đồng chí Khuynh chúc mọi người hành quân trót lọt. Định quay đi thì đồng chí Thịnh, đồng chí Vượng và đồng chí Quế là những cán bộ của Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2 bị thương, chống gậy tới và nói: “Thay mặt tất cả anh em thương binh cám ơn anh chị em hậu cần, vận tải, quân y trong trạm suốt mấy ngày qua đã chăm lo chu đáo và hôm nay còn mở được đường để chuyển thương. Các đồng chí không chỉ giỏi về công tác đảm bảo hậu cần mà còn giỏi cả công tác tham mưu như những sĩ quan tác chiến.”
Tôi và anh Khuynh quay về trạm. Ra khỏi rừng thì trời tối. Trăng sáng, vượt qua mấy đám ruộng hoang ngập cỏ. Mấy con chim kền kền bay vọt lên kêu hoảng loạn “Cheeng cheeng héc! Cheeng cheeng héc!” Đây là một loài chim rất thính, luôn đi cả đàn, bay, nhảy, là là mặt đất. Hễ có động là kêu toáng lên. Nhiều lúc nguy hiểm cho ta lúc hành quân gần địch. Nhưng cũng có lúc báo động cho ta biết có địch hành quân phục kích.
21 giờ, tôi và Khuynh về tới trạm. Đói, mệt. Đồng chí Khê vội xuống bếp lấy cơm. Tôi hỏi Khê mở đài miền Bắc nghe ta bắn rơi chiếc máy bay thứ mấy rồi? Khê trả lời: đài hết pin phải ghé sát tai mới nghe lõm bõm. Các cô nuôi quân cười bảo: “Anh Khê chuyên nghe “đài ghé”. Khê không biết nói lái nên cao giọng thanh minh: “Đài hết pin không ghé tai vào thì làm sao nghe được.” Các cô càng cười to hơn. Tôi phải giải thích cho Khê rằng: các cô nói em nghe “đài ghé” là nói em “đè g...”. Khi đó Khê mới đỏ mặt đi ra.
Ngày N+65: đồng chí Ai, Chính ủy Trung đoàn đến Trạm Trung chuyển thông báo những hoạt động thắng lợi của ta đã giải phóng từ xã Mỹ Đức, Mỹ Thắng đến Mỹ An, Mỹ Thành, Mỹ Cát, Mỹ Tài (huyện Phù Mỹ). Nhiệm vụ của trung đoàn sắp tới là giữ vững vùng giải phóng, và tiếp tục trừng trị tề ngụy ngóc đầu dậy. Sẵn sàng đánh lại bọn bảo an và lính Cộng hòa đi càn, không cho chúng lập lại ấp. Thủ đoạn của chúng là dùng xe tăng, xe bọc thép có chi viện của pháo binh, máy bay cho bộ binh tiến công.
Ta đang khó khăn về đạn chống tăng. Cuộc chiến sẽ căng thẳng, ác liệt, thương vong sẽ lớn hơn. Bọn Mỹ và lính Nam Hàn tránh tác chiến trực diện để chờ về nước. Nhưng lại tích cực tham gia đổ bộ, phục kích đánh phá hậu cứ của ta. Các kho trạm phải cảnh giác và xác định tự chiến đấu để bảo vệ mình, thực hiện nhiệm vụ bảo đảm. Trung đoàn tăng cường choTrạm trung chuyển 2 chiến sỹ trinh sát giỏi. Đồng chí Khuynh, đội trưởng đội phẫu báo cáo, hiện tại có 2 ca thương phải phẫu thuật. Thuốc gây tê, gây mê đều hết. Nếu phẫu thuật sẽ có tiếng kêu la, địch nghe thấy. Đồng chí Hải, phó chính trị viên đại đội vận tải đề xuất đổi giờ làm việc. Buổi sáng từ 4-8 giờ là lúc bọn địch chưa hoạt động. Nếu có tiếng kêu la, địch cũng không nghe thấy. Đồng chí Ai nhất trí.
Khoảng 14 giờ hôm đó, tôi dẫn 2 trinh sát ra vọng gác giới thiệu địa hình và tình hình xung quanh. Tôi hỏi:
- Các đồng chí về Lữ đoàn lâu chưa? (Lúc đó Trung đoàn 2 gọi là Lữ đoàn)
- Em là Tiến, về đơn vị năm 1969, lúc ở Quảng Ngãi.
- Em là Hỷ cùng về với anh Tiến.
- Vậy là cựu binh rồi – Tôi nói. Nhưng chưa hoạt động vùng này phải không?
- Vâng ạ! – Cả hai cùng đáp.
Tôi nói rõ nhiệm vụ chủ yếu của 2 đồng chí là bám nắm địch và dẫn đường cho bộ đội chuyển thương binh, chuyển hàng qua vùng địch kiểm soát. Phải giữ bí mật, không để lại dấu vết sau mỗi lần đi và không để xẩy ra tác chiến. Việc nấu nướng nhờ vào dân. Dân ở đây chỉ còn bảy, tám gia đình, toàn đàn bà, trẻ em và người già. Họ rất thương bộ đội nhưng rất nghèo, không được đòi hỏi gì ở họ. Đêm nào họ cũng đón bộ đội và cán bộ dân chính qua lại đun nấu, ngủ nhờ tới sáng. Hai người phải nấu cho mình đủ ăn cả ngày. Ban ngày lên núi không được nấu nướng gì. Địch luôn dòm ngó cái xóm nhỏ này, bắn pháo bất kỳ và muốn tập kích vào ban đêm nhưng sợ mìn của du kích xã đội do cô Thiết chỉ huy. Chúng còn sợ cả con chó nhà bà Hai. Con chó khôn hết nói. Cán bộ, bộ đội đi suốt đêm thì không sao nhưng lính Mỹ, lính ngụy từ vùng địch mò lên là nó sủa từ xa. Địch tiến, nó lui, địch lui, nó bám theo. Nó chuyên nằm chỗ kín ở bìa làng hoặc mé đường cái lớn. Anh em mình ngủ trong làng cũng yên tâm. Đồng bào ở đây sống nhờ hạt gạo, củ khoai, ngọn rau quanh nhà và kiếm củi đem xuống vùng địch bán. Không nuôi heo, gà. Ăn chỉ có cơm, rau, muối, mắm. Tối ngủ dưới hầm kèo (hầm chữ A). Người già có võng nằm. Người khỏe trải chiếu hoặc nilon xuống đất. Họ sống như vậy bao năm nay rồi. Chúng ta phải quý trọng họ, không được làm điều sai trái.
Tôi đang say sưa giải thích mọi việc như vậy thì bỗng nhiên, đồng chí Tiến giật tay áo tôi và nói:
- Anh Đáng ! em đã nhận ra anh rồi. Anh là người đã từng cắt tóc cho em mấy lần...
- Tôi ngỡ ngàng hỏi:
- Cắt tóc cho cậu. Ở đâu, bao giờ?
- Anh còn nhớ cách đây 16 năm, chiều nào anh cũng trèo lên chòi, dùng loa mo cau đọc báo cho cả xóm em nghe. Em trèo lên, anh không cho, lại còn mách với cha em...
- Thế cậu là người Nghệ An? Ở Diễn Kỷ, Nghi Long, Nghi Kiều hay Nghi Đức?
- Em quê Hà Tĩnh, xã Đức Trung, huyện Đức Thọ, có nhà thờ Thiên Chúa giữa làng.
Tôi nhớ ra rồi. Dó là một làng quê nghèo. Năm 1954 lụt lớn, vỡ đê. Dân đói không có rau ăn. Tết năm 1955, mạ cấy xuống, có phù sa, lúa tốt mơn mởn, nhưng đồng bào theo đạo Thiên Chúa, nghe bọn phản động đội lốt cha cố tuyên truyền “Cộng sản vô đạo, Chúa đã vào Nam”, thế là bà con bỏ ruộng đồng, nhà cửa, kéo nhau xuống Cửa Sót để lên tàu thủy của Pháp đi vào Nam. Hồi đó, tôi được đơn vị cử đi làm công tác dân vận, thực hiện 3 cùng: “Cùng ăn, cùng ở, cùng làm viêc với dân” để vân động đồng bào đừng nghe lời kẻ xấu. Lúc đầu, bà con Công giáo không cho vào nhà. Có nơi còn cho các bà, các chị, các o cởi truồng để bộ đội xấu hổ không dám tiếp cận. Chúng tôi ở ngoài vườn, ngày 2 buổi ra đồng tát nước, làm cỏ. Chiều về dọn vệ sinh, cắt tóc, tắm gội cho trẻ em. Tối tối, từng tổ 3 người đến các gia đình, nói chuyện với bà con mọi điều phải, trái. Dần dần họ hiểu và mời bộ đội vào nhà rồi rủ nhau đi làm đồng. Đa số bà con bỏ ý định đi vào Nam. Thôn xóm rộn ràng tiếng hát, tiếng học chữ.
Năm đó lúa tốt, được mùa to. Nhà nào cũng có lúa mới. Đơn vị liên hoan văn nghệ. Bà con đến dự đông nghịt. Sau khi nghe đồng chí chỉ huy tuyên bố, đây là buổi liên hoan chia tay, cả sân đình nhốn nháo hẳn lên, không hát múa gì được. Bà con khóc lóc níu áo bộ đội, kể lể mọi chuyện những ngày bộ đội nhường cơm, sẻ áo cho bà con...Sáng hôm sau, bộ đội lên đường, các mẹ, các chị, các em khóc nức nở chẳng khác gì ngày tôi tập kết ra Bắc.
Cậu Tiến kể, cả làng em, mấy năm sau, dù đã quên tên nhưng vẫn nhớ và nhắc anh bộ đội quê Trị Thiên trẻ, đẹp, nói năng lễ phép và giỏi văn nghệ, yêu trẻ em.
Tôi cười bảo
- Mới đó mà 15, 16 năm rồi. Người thì tớ quên nhưng chuyện về làng cậu thì không bao giờ quên.
- Thế anh đã có vợ chưa ? Đột nhiên Tiến hỏi.
- Hai lần yêu nhưng phải thôi vì đánh địch liên miên.
Tối hôm đó, tôi trực tiếp xuống trạm gác Đồng Cầu để bàn giao 2 đồng chí trinh sát. Trước khi đi, tôi tuyên bố:
- Các đồng chí trinh sát còn mới lạ nên đêm nay, các đồng chí vận tải đi trước, kế đến là đội phẫu, sau cùng là trinh sát và tôi. Hai đồng chí trinh sát phải nhớ đường để từ lần sau làm đúng nhiệm vụ.
Bàn giao 2 trinh sát cho trạm Đồng Cầu xong, tôi rủ Tiến và Hỷ đi tắm cho biết chỗ. Xóm Đồng Cầu ít nhà, ít người nhưng tối đến là nhộn nhịp. Bộ đội, cán bộ dân chính, dân quân, du kích, đủ mọi thành phần nam, nữ. Nhà nào cũng có bốn năm người nấu cơm, nước. Đường ra suối vắng vẻ. Bỗng có tiếng con gái rì rầm phía suối. Cậu Tiến hỏi: trước mặt là một xóm nữa hay sao mà có tiếng người? Tôi bảo: không phải xóm làng mà là xóm cơ động của trạm phẫu. Họ đi gùi hàng và cũng tranh thủ tắm như chúng mình. Tôi đằng hắng mấy tiếng để báo động. Các cô im lặng. Tôi lên tiếng:
- Ai có xà phòng cho mượn một lát.
- Có đây! Anh Đáng phải không? Sang đây lấy một cục mà giặt.
Cậu Hỷ hỏi tôi:
- Anh là cán bộ mà không được cấp xà phòng? Tôi không trả lời mà hỏi lại:
- Cậu vào chiến trường lâu chưa?
- Dạ, hai năm ở núi rồi.
- Thế cậu có biết tiêu chuẩn của Quân Giải phóng miền Trung Trung bộ chưa. Hãy nghe đây. Trên giấy thì mỗi ngày 2 lon rưỡi gạo (khoảng 6 lạng), 2 đồng tiền thức ăn (tiền ngụy Sài Gòn). Nhưng thực tế, có nhiều thì ăn đúng quy định, có ít thì ăn ít, không có thì tìm củ mỳ (sắn) và rau rừng. Phụ cấp sinh hoạt cá nhân chỉ cấp cho phụ nữ, mỗi tháng 20 đồng tiền vệ sinh. Còn con trai chúng mình “luôn sạch sẽ” nên không có phụ cấp khoản ấy.
Chúng tôi tắm vũng nước trên dòng. Các cô tắm vũng nước dưới dòng. Các cô nói vọi lên: “ Đàng ấy có ai bị hắc lào thì khoan hãy tắm, kẽo nó trôi xuống bám vào chúng em thì gay”. Tôi trả lời “ Bọn anh toàn người đẹp. Có cần kiểm tra thì lên đây. Còn các cô cũng tắm sơ sơ thôi, kỳ cọ kỹ quá thì cá sẽ cay mắt, chết mất giống. Mà nhớ ở suối có nhiều đỉa trâu, sờ mà bắt, đừng soi đèn pin, địch trên đồi phát hiện, chúng bắn pháo, không kịp mặc quần áo mà chạy đấy.”, Nghe nói có đỉa trâu, các cô vội vã tắm và rút lui. Ba anh em chúng tôi tiếp tục tắm. Tôi hỏi cậu Hỷ quê ở đâu. Hỷ trả lời: “Em có nói chắc anh cũng không biết... Quê em ở tận Đồng Hỷ, Thái Nguyên”. Tôi hỏi: “Có gần bến đò Huống Trung không? Cậu có biết nhà anh Tính cô Tình, trước cổng có cây bông gòn rất to”. Và rồi tôi kể cho hai người nghe: Đầu năm 1957, tớ được cử đi học lái xe ở trường Tiến Bộ. Trường ở gần chùa Hang Dơi, trên đường đi Trại Cau, Bố Hạ. Ban đầu các học viên phải ở nhờ nhà dân. Tại Đồng Bẩm khi có mới có tổ đổi công. Ban ngày cánh tớ đi tát nước cho bắp cải, su hào. Trời không mưa. Lạnh cóng tay, nứt môi. Đúng là “rét Thái Nguyên”. Tối ra nằm chơi bờ sông với mấy anh câu cá chép. Cách câu cá không mồi ở quê cậu thật lý thú. Đúng là câu chơi ăn thật... Cậu Tiến hỏi chen vào: “Câu kiểu gì mà không cần mồi?” Tôi kể tiếp: “Người đi câu dùng một sợi dây làm triêng giăng từ bên này sông qua bên kia sông. Trên dây triêng từng đoạn khoảng 30cm buộc một dây câu có lưỡi câu chùm, không có ngạnh nhưng rất bén. Một đầu dây triêng buộc vào cọc mềm. Trên cọc treo một ống bơ rỗng chứa mấy hòn đá bi. Xong việc là nằm đó tán dóc. Vào mùa cá đẻ. Bụng tức trứng. Bờ sông cao không có cỏ rác. Cá đi tìm chỗ để cà bụng để cho trứng xịt ra. Gặp dây câu, chúng cà vào và mắc phải lưỡi câu, vẫy vùng làm giật dây triêng, rung cọc, rung lon, ta chèo ghe ra cầm vợt xúc lên. Cá bắt được con nào cũng đầy bụng trứng.”
Thật không ngờ ngay ở chiến trường xa xôi này, tôi lại được gặp hai chiến sỹ là những người con của những vùng quê mà tôi có nhiều kỷ niệm. Tôi coi các đồng chí ấy thân thiết như ruột thịt. Tôi cũng cảm nhận tình cảm các đồng chí ấy đối với tôi như người anh thân thiết, từng trải.
Bất ngờ cậu Hỷ hỏi:
- Suối này là suối gì, anh Đang?
- Trong bản đồ là suối Húc Giang. Nhân dân gọi là suối Lạc Sơn, vì nó chảy qua thôn Lạc Sơn, còn bộ đội ta gọi là suối Máu Lửa. Cái tên Máu Lửa được gọi từ mùa hè năm 1968. Năm đó, sau Tết Mậu Thân, Lữ đoàn kỵ binh thiết giáp số 173 Mỹ ra phản kích. Hàng năm, sáu chục chiếc xe tăng, xe bọc thép dàn hàng ngang tiến vào khu vực này, bắn pháo, DKZ 90 li lên vách núi, hang đá. Máy bay trực thăng hai chong chóng mang hàng chục phi xăng thả vào các cửa hang, sau đó máy bay HU1A phóng tên lửa cho xăng cháy. Tiếp đến dùng máy bay phản lực ném bom, triệt hạ cây cối, công sự, hang đá. Chúng chà đi xát lại mấy lần, lửa khói ngút trời. Lúc đó xe tăng và bộ binh Mỹ mới tràn lên như vào chỗ không người. Nhưng chúng không biết rằng, con suối này mùa mưa thì nước lũ, mùa khô thì hết nước. Lòng suối sâu tới hai mét, trở thành đường hào tự nhiên từ trong núi dẫn ra đồng bằng. Khi địch đánh phá rìa núi thì bộ đội ta đã cơ động theo suối, bí mật tiến ra. Khi xe tăng, bộ binh địch tiến sâu vào núi thì các đơn vị từ lòng suối vọt lên đánh vào sau lưng chúng, dùng B40, B41, DKZ 57, DKZ75, bắn cháy 36 chiếc xe tăng, xe bọc thép. Địch bị thất bại thảm hại và ta cũng bị tổn thất một tiểu đoàn. Bãi chiến trường khét lẹt, đen thui khói đạn, máu chảy đỏ lòng suối. Suối này có tên Máu Lửa từ đó. Cũng từ đó, khu vực này luôn là chỗ dòm ngó, đánh phá của địch. Còn chúng ta, với tư tưởng chỉ đạo: “Chỗ nguy hiểm chính là chỗ bất ngờ và an toàn nhất” nên thường đặt trạm tại đây. Mấy tháng qua, chúng đổ quân phục kích liên tục mọi ngả đường. Nhưng đối với ta, đường là do mình tạo ra. Ta muốn đi đến đâu thì cứ mở bản đồ, xem chỗ nào không có địch thì mở đường ta đi. Những con đường không có trong bản đồ. Rừng núi là của ta. Ta có thể đi sát nách chúng, ở sát nách chúng. Trạm Trung chuyển của Trung đoàn tồn tại được ở khu vực này là bởi như vậy. |