Cựu chiến binh

Trận chiến đêm " Ma Ly Pho"

Trận chiến đêm "Ma Ly Pho"

Lai Châu18/10/2025Sùng A Nhìa (Đoàn xã Tà Tổng)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
 Trận chiến đêm " Ma Ly Pho"

“Đêm Ma Ly Pho”

Tôi là Sùng A Sình, người Mông ở xã Tà Tổng, huyện Mường Tè. Năm ấy tôi hơn 17 tuổi, chân còn chai bùn nương ngô, lên đường nhập ngũ tại huyện Mường Tè, về sau chuyển về huyện Phong Thổ. Tôi không nhớ hết mọi con số, chỉ nhớ những khuôn mặt. Nhưng có những tiếng động không bao giờ quên: tiếng pháo như xé vách núi, tiếng lệnh dõng dạc của chỉ huy, tiếng suối Nậm Na lầm rầm như muốn nuốt hết nỗi sợ trong ngực người lính.

Đồng chí: Sùng A Sình - Cựu chiến binh tham gia chiến đấu tại “Ma Ly Pho”

Rạng sáng 17 tháng 2 năm 1979, trời vùng biên còn đặc hơi sương. Từ dưới suối, một quả pháo đầu tiên rít qua những tán cây rồi nổ chát chúa ngay gần đồn. Đất đá rơi rào rào, mùi khói đạn bốc khét. Chúng tôi lao vào vị trí chiến đấu. Tôi nghe tiếng anh Phương bên chốt số 3 quát to: “Giữ vững!”; tiếng đáp “Rõ!” dội từ hào đất sang bờ suối. Vài phút sau, pháo lại trùm lên, dày, gấp, giống như mưa đá mùa giông đổ xuống nương ngô. Ở Ma Ly Pho hôm ấy, người ta bảo giờ giấc như gạo rơi qua néo, trôi vèo, vì mỗi phút đều có thể là cuối cùng.

Đồn 33 của chúng tôi quản lý một dải đường biên dài hơn bốn chục kilômét. Lính trong đồn đa phần trẻ như tôi: con của núi, lớn lên cùng tiếng khèn, chưa kịp đi xa khỏi chợ phiên đã khoác súng lên vai. Nhưng tuổi trẻ không đồng nghĩa nông nổi. Chúng tôi biết đây là đất nhà mình; đằng sau lưng là bản, là đèn dầu nhà mẹ. Rạng sáng, địch ào lên thành nhiều đợt dày đặc. Đạn bắn giáp lá cà, tay run mà mắt vẫn phải mở to, nhìn cho rõ bóng áo cỏ, nhìn cho đúng mục tiêu. Có lúc chúng tràn đến gần lắm, chỉ nghe thấy tiếng thở phì phì qua khẩu trang vải của họ. Vậy mà từng đợt, từng đợt, anh em tôi gạt sang hai bên chiến hào, đẩy lùi.

Tin từ Vàng Ma Chải chuyển về, nói địch đổi hướng, thọc vào các mũi đường lên Dào San, có ý chiếm ngã ba Pa So để mở cửa vào thị trấn Phong Thổ. Nghe xong, tôi siết chặt báng súng. Con đường ấy, chúng tôi đã chăn dắt trâu qua không biết bao lần; đá ở đó sắc, gió quẩn trong thung, đi một mình thì hát cho đỡ sợ. Đêm đến, chúng tôi chia nhau giữ chốt. Có mảnh đạn sượt qua vai tôi, nóng rát như mũi kim nung. Anh em y tá băng lại, nói nhỏ: “Còn bắn được không?” Tôi gật. Mình gật là vì còn nghe tiếng mẹ gọi tên mình trong đầu, còn nghĩ tới mấy hàng ngô vừa bén rễ trên nương dốc.

Ngày kế tiếp, pháo kích còn dồn dập hơn. Trận địa rung như mặt trống gọi hội; nhưng thay vì múa khèn, chúng tôi phải múa lưỡi lê. Tôi nhớ rõ mùi đất ẩm trong chiến hào, mùi thuốc súng bám vào áo chàm cả tháng mới phai. Có chốt duy nhất của anh Phương bị vây bốn phía. Từ chỗ tôi, chỉ thấy cột khói đen bốc lên rồi lịm dần. Lát sau, anh em ta bất ngờ phản kích, bẻ gãy mũi thọc. Lúc lặng đi được vài nhịp thở, tôi ngả lưng lên thành hào đất, ngước mắt qua lớp sương loãng—bầu trời Cao Bằng, Lạng Sơn, Lai Châu ngày đó có lẽ đều chung một màu chì.

Trong đồn có một cậu lính tên Sình như tôi, người Giáy, nhỏ hơn tôi hai tuổi. Cậu giữ thói quen lạ: cứ rảnh tay là lôi chiếc sáo tre ra thổi một khúc ngắn, đúng ba lần rồi lại cất. Cậu bảo đó là điệu gọi nắng ở bản. Tôi cằn nhằn: “Đừng thổi, lộ vị trí.” Cậu cười: “Thổi trong đầu thôi.” Vậy là giữa tiếng đạn, nhiều khi tôi nghe như có một khúc sáo ngắn ngủi chạy qua đầu, ấm lạ. Đêm yên hiếm hoi, cậu nói mơ: “Mai mưa thì ngô được mùa.” Sáng sau, cậu không còn ở chỗ cũ nữa. Tôi ngồi ôm mũ sắt của cậu rất lâu, nghĩ mãi về khúc sáo chưa kịp thổi.

Chiến sự kéo dài, có khi lắng xuống rồi lại bùng lên, như con suối Nậm Na mùa lũ - lên nhanh, rút cũng nhanh mà đáy suối vẫn sẹo. Khi chúng tôi đứng được trên các điểm cao, đẩy lùi từng đợt tiến công, tôi biết đất đã nhận lại hơi người mình. Những đồng chí còn lại đứng dựa lưng vào nhau, áo chàm sẫm đen, mắt ai cũng đỏ vì khói.

Nhiều năm sau, tôi trở về Ma Ly Pho trong một buổi sáng trong veo. Con đường đã mở rộng, cầu qua suối dựng vững. Trẻ con chạy lon ton, áo mới lấp lóa nắng. Ở nơi đặt bia tưởng niệm, tôi thắp một nén hương. Khói hương mảnh như khúc sáo năm nào, luồn qua khe đá mà bay.

Quyết định Xuất ngũ của đồng chí Sùng A Sình

Và tôi kể với chính mình: Đêm Ma Ly Pho không chỉ là chiến hào, tiếng pháo, tiếng lệnh. Đêm ấy còn là nắm cơm nếp lá dong của bà con nơi ấy, là khúc sáo chưa kịp thổi, là bàn tay người giữ đất. Chúng tôi đã trẻ, đã sợ, đã kiên cường. Đến hôm nay, mỗi lần bước chân qua ngã ba Pa So, tôi vẫn nghe tiếng Nậm Na vỗ vào đá, như một lời nhắc dịu dàng: “Giữ lấy đất mình, Sình ạ.”

— Đồng chí Sùng A Sình kể lại, cho “Câu chuyện thời hoa lửa”.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn