Bài viết

Trần Đăng với “Trận Phố Ràng”

Hưng Yên19/11/2025Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trận đánh đồn Phố Ràng (trung tâm thị trấn Phố Ràng, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai ngày nay) diễn ra vào tháng 6-1949. Trận đánh được thể hiện chân thực qua ký sự “Trận Phố Ràng” nổi tiếng của nhà văn, nhà báo chiến sĩ Trần Đăng.

Đồng chí Trần Đăng Ninh với cuộc Khởi nghĩa Bắc SơnTrần Đăng tên thật là Đặng Trần Thi, sinh ngày 11-11-1921 tại xã Tây Tựu (nay thuộc quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội). Từ nhỏ, ông đã nổi tiếng thông minh, học giỏi, say mê văn chương. Học xong Trung học Thăng Long, ông vào học Đại học Luật khoa Hà Nội, rồi hăng hái tham gia Cách mạng Tháng Tám. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông vào Vệ quốc đoàn, trở thành phóng viên mặt trận của Báo Vệ quốc quân (tiền thân của Báo Quân đội nhân dân ngày nay). Có mặt ở nhiều chiến dịch, nhiều trận chiến đấu ác liệt, đi liên tục và viết ngay trong trận đánh, dưới chiến hào, đặc trưng của trang viết Trần Đăng là giàu chất ký, tươi rói hình ảnh, nóng hổi tính thời sự.Tác phẩm của Trần Đăng đã kịp thời phản ánh, biểu dương, cổ vũ, ca ngợi bộ đội, nhân dân ta đánh giặc. Những trang viết ấy hoàn toàn nhất quán với quan niệm văn học bắt nguồn từ cuộc sống và phục vụ cuộc sống của chính tác giả: “Chỉ có cái khách quan mà kể lại, hãy khoan làm một tấm sơn mài mà làm bức vẽ nhanh cho thật đúng, giản dị, thành thực và thật”... Nhà văn được kết nạp Đảng rất sớm, ngay từ năm 1948. Các tác phẩm tiêu biểu: “Một lần tới Thủ đô”, “Một cuộc chuẩn bị”, “Lúa mới”, “Trận Phố Ràng”, “Những ngày cuối năm”, “Trên Đường số 4, 15 cây số Thất Khê-Lũng Phầy”... Bản thảo cuối cùng trong cuốn sổ tay của ông trước khi hy sinh là bút ký “Một trận vui lớn trên Đường số 4” còn dở dang, sau được đăng trên tuần báo Văn nghệ số 151 (ngày 20-12-1956).Nhà văn Trần Đăng. Ảnh tư liệuNgày 24-6-1949, quân ta tiến đánh đồn Phố Ràng. Đồn được xây dựng trên cao điểm 442, diện tích rộng gần 1ha. Đồn có vị trí chiến lược khống chế khu vực lòng chảo thị trấn Phố Ràng và các khu vực lân cận, từ vị trí đồn có thể bao quát các hoạt động ở khu vực sông và hai bên bờ. Quân Pháp cho xây dựng một hệ thống công sự vững chắc quanh cứ điểm với nhiều lô cốt, giao thông hào, cài mìn, đặt vật cản và ụ súng. Đồng thời bố trí 2 trung đội Âu-Phi, 1 đội lính khố đỏ, 1 trung đội lính dù, 1 trung đội lính dõng, cùng nhiều loại vũ khí hiện đại.Đến 18 giờ, bộ đội ta bắt đầu bắn khống chế các ụ súng để bộ binh tiến công. Sau hơn 40 giờ đồng hồ chiến đấu liên tục, 8 giờ sáng 26-6-1949, quân ta làm chủ trận địa, bắt sống tên quan ba chỉ huy, tiêu diệt hơn một đại đội địch... Trận đánh làm rung chuyển tuyến phòng thủ của giặc Pháp từ Bảo Hà-Phố Ràng-Nghĩa Đô-Yên Bình. Ngoài tổn thất lớn về người, vật chất, địch còn sa vào tình trạng hoang mang về tinh thần. Nhìn từ tổng thể chiến lược, trận đánh góp phần quan trọng đưa Chiến dịch Sông Thao đến toàn thắng.Thị trấn Phố Ràng Ảnh: TRANG BẢO YÊNLà người trực tiếp tham gia trận đánh, đúng với nghĩa vừa cầm bút vừa cầm súng, Trần Đăng đã có một tác phẩm để đời, không chỉ là miêu tả, phản ánh mà còn là bài học sống và sáng tạo nghệ thuật. Chỉ người trong cuộc với óc quan sát tinh tế mới có cách miêu tả như chụp ảnh sự việc, sự vật: “Suối ngập đến bụng. Bờ suối cao quá đầu, đẩy nhau mà lên. Rồi cứ người nọ theo người kia, giẫm bừa lên những cỏ lau rậm rạp cao đến ngực và gai góc, dây dợ, giằng quần áo, da thịt ra mà chạy. Thế là thành một lối cỏ dập xuống, xăm xắp nước bùn”. Phải là người lính cầm súng trong đội hình xung kích mới bắt được những tình huống có thể chưa đặc sắc nhưng riêng biệt: “Xung kích đã nằm rạp xuống đất vừa ngóc đầu lên thì khẩu 75mm bồi luôn một phát. Đồn địch sụp đổ rầm rầm như núi lở. Chắc một thằng nào đã trót bóp cò trước khi ngã nên một phát súng trường nổ xuống sông, tung tóe nước...Xung kích dàn hàng ngang, trong một rãnh nước cạn, sau mấy cây gỗ mục cách đồn 100 thước. Bước tiến ào ạt, địch đã tỉnh lại. Những tia lửa loe lóe dưới nóc lô cốt số 1. Từng luồng khói theo nhau phụt xuống chân hàng rào. Lửa chỉ còn âm ỉ trên đồn địch. Ốngbơ một dãy dài tắp, lấp lánh trắng, trên mũi ngọn tre hàng rào tua tủa. Những mái nhà còn chen chúc, nhô trên dãy tường trình, có một hàng lỗ châu mai đen ngòm cách từng khoảng đều đặn. Những đống gạch, tre gỗ nhấp nhô như mấy cái lò gạch hoang đều nhau”.Từng là người lính nhưng cách sau mấy chục năm, tìm hiểu lịch sử trận đánh qua sách, báo, qua nghe kể chuyện, chúng tôi mới hiểu hình ảnh “ống bơ một dãy dài tắp, lấp lánh trắng, trên mũi ngọn tre hàng rào tua tủa” là “một đi không trở lại” trong chiến tranh: Hồi ấy, lính Pháp được quân đội Mỹ cung cấp sữa. Dùng hết sữa, theo lệnh chỉ huy, chúng tập hợp những chiếc ống bơ lại, lấy dây thép xuyên qua rồi mắc trên “hàng rào” để phòng, chống đột nhập (ống bơ sẽ phát ra tiếng kêu khi chạm người hoặc vật).Những chi tiết thật như đời sống, từ cách xưng hô, cách trả lời đến hành động đều rõ ra chỉ ở trận đánh ấy, thời điểm ấy mới có: “Một đội viên sấp ngửa vừa qua cổng, sấn ngay đến một người nằm dưới đất, mặt mũi, quần áo nhọ nhem quát: “Sao mày không hàng ngay hở?”. Người nằm dưới đất ngồi dậy: “Tao ở 120, mày ở 122 còn hàng, hàng cái gì?” và đổi giọng rên rỉ: “Tải thương đâu?”. Tức nhầm lẫn quân ta là quân địch, chi tiết này cho thấy trang phục bộ đội chưa chính quy. Cách miêu tả sự hy sinh của một cán bộ cũng như thật, không cường điệu, không lên gân hay bi lụy hóa: “Xác trung đội trưởng Bính cũng còn trên nhà số 5, nằm nghiêng, một tay vẫn nắm chặt chuôi kiếm. Thân thể anh đã cứng, lạnh ngắt hơi sương, mắt nhắm như ngủ say”. Người liệt sĩ chỉ huy ấy khi được đưa lên cáng, “giữa cái tới tấp thu dọn chiến trường những tiếng cười rú, một trăm thứ chuyện kể vội lấy được... thì một đội viên chạy lại nhìn hỏi trống không một câu ngớ ngẩn: Anh Bính biết là lấy được đồn rồi chứ nhỉ?”. Một câu hỏi như bao câu hỏi khác, đúng là có phần “ngớ ngẩn” nhưng nói lên rất nhiều: Sự hy sinh của người Vệ quốc quân trở nên bình thường như bao việc đời thường khác. Thì ra người lính coi cái chết nhẹ như lông hồng. Đó lại là điều vô cùng vĩ đại ở họ: Đem cuộc sống mình dâng hiến cho Tổ quốc một cách tuyệt đối!Trên Báo Vệ quốc quân (số Xuân 1950), trong bài “Những bạn văn trẻ nhớ về Trần Đăng”, nhà văn Nguyễn Huy Tưởng nhận xét rất đúng: “Cái ngòi bút vừa lạnh vừa nồng nàn vừa âm vang tiếng sắt thép mà còn đầm ấm tinh thần người Vệ quốc quân hiên ngang, chăm chỉ, thật bộ đội, rất chính quy, tôi chưa được đọc ai như thế. Đăng tài nhận người, xét đoán việc với cách nhìn thoáng đã chụp thành kiểu, gọn sắc. Đăng làm việc nhiều, sống mãnh liệt. Đăng là một thanh niên cộng sản. Các bút ký của Đăng cũng khỏe như cái chân đi của Đăng”...Là “văn nghệ binh thứ nhất đổ máu trên chiến trường”, ngày 26-12-1949, nhà văn Trần Đăng hy sinh trên đường đi công tác ở khu vực bản Nà Lầu (Văn Lãng, Lạng Sơn) khi mới 28 tuổi, để lại cuốn sổ tay ghi chép rất nhiều thứ, từ cuộc sống thường nhật của nhân dân, bộ đội đến các chi tiết mới lạ ở sách, báo nước ngoài... Đó là những tư liệu quý để sau này hiện thực hóa trên những trang văn. Nhưng thật tiếc, một tài hoa văn chương đã ngã xuống, góp phần để đất nước nở hoa độc lập. Nhà văn được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học, nghệ thuật năm 2007.NGUYÊN THANH

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Trần Đăng với “Trận Phố Ràng” | Câu chuyện thời hoa lửa