Khác

TRẬN ĐÁNH CẦU CHÂU Ổ

Đoạn văn kể về trận đánh sập cầu Châu Ổ năm 1968 trên tuyến Quốc lộ 1 tại Bình Sơn. Đơn vị công binh của Sư đoàn 3 Sao Vàng bí mật tiếp cận mục tiêu, đặt thuốc nổ phá sập hai nhịp cầu nhằm cắt đứt tuyến tiếp tế quan trọng của địch. Trận đánh diễn ra nhanh chóng, ta làm chủ trận địa và hoàn thành nhiệm vụ chiến dịch, dù có tổn thất và sự hy sinh của một số chiến sĩ.

Lai Châu16/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong các chiến dịch được mở ra, lực lượng công binh, ngoài các nhiệm vụ bảo đảm chiến đấu, thường được giao một nhiệm vụ hết sức quan trọng, góp phần hoàn thành mục tiêu của chiến dịch đề ra. Đó là nhiệm vụ đánh phá giao thông, cắt nguồn tiếp tế của địch. Trên chiến trường, tùy theo tính chất và tầm quan trọng ở các khu vực và mục tiêu cụ thể, địch rất chú ý đến hệ thống đường sá, cầu cống. Vì đây là sự sống còn đối với các đồn bót, các căn cứ quân sự và cả sự tồn tại chính quyền của chúng ở địa phương.

Đặc điểm chiến trường Liên khu 5 có nhiều sông, suối, hầu hết đều cắt ngang qua quốc lộ số 1 nên có rất nhiều cầu cống. Ngoài đường ô tô, còn có đường tàu hỏa. Do vậy, để đảm bảo giao thông liên tục thông suốt, địch đã thiết lập được hệ thống bảo vệ khá nghiêm ngặt. Các cầu đều có lô cốt, rào thép gai, mìn sát thương bao bọc và có lực lượng bảo vệ. Đánh cầu có địch canh giữ là nhiệm vụ hết sức phức tạp. Bởi thế, có nhiều trận không thành công.

Đánh cắt giao thông thắng lợi, sẽ hạn chế rất nhiều sự di chuyển lực lượng tiếp tế của địch từ vùng này sang vùng khác; quân ta tạo được thế bao vây, cô lập về mặt chiến dịch và chiến thuật, góp phần giành thắng lợi trên từng khu vực, có khi trên một chiến trường rộng lớn. Trong chiến tranh, vũ khí, phương tiện càng hiện đại, công tác bảo đảm chiến đấu càng phải được coi trọng. Việc cơ giới hoá bộ binh, tăng cường được sức cơ động phải song song với việc bảo đảm đường sá mới phát huy được tác dụng của binh khí kỹ thuật. Đặc điểm chiến trường Việt Nam là một bất lợi không dễ gì khắc phục đối với địch, cả trong kháng chiến chống thực dân Pháp trước đây và trong chiến tranh chống sự xâm lược của đế quốc Mỹ vừa qua.

Đầu năm 1968, đại đội tôi được giao nhiệm vụ đánh sập cầu Châu Ổ, trên đường quốc lộ số 1, nằm kế gần một bên thị trấn cùng tên, thuộc huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, cắt đứt giao thông tiếp tế của địch, không cho chúng chi viện từ căn cứ hậu cần ở Đà Nẵng, Nước Mặn, Chu Lai vào, hoặc từ thị xã Quảng Ngãi, Sa Huỳnh ra, tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị bạn đánh dứt điểm một số mục tiêu trong chiến dịch Xuân - Hè, 1968.

Ở tỉnh Bình Định, Trung đoàn bộ binh 12 sau những tổn thất nặng nề tại khu vực núi Bà, đang gặp rất nhiều khó khăn về lương thực, đạn dược. Tại tỉnh Quảng Ngãi, trung đoàn bộ binh số 2 và 22 cũng không mấy thuận lợi, nhưng nhờ sự chi viện của Quân khu và sự phối hợp tác chiến với Sư đoàn bộ binh số 2 ở tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, nên bớt khó khăn hơn. Giữa tháng 2-1968, hai trung đoàn đã mạnh dạn, thọc thẳng xuống vừng sâu. Để chuẩn bị trước cho đợt ra quân lần này, cuối tháng 11 năm 1967, chúng tôi được giao nhiệm vụ nghiên cứu mục tiêu cầu Châu Ổ. Từ một vị trí đóng quân ở phía tây huyện Bình Sơn, đoàn cán bộ do đồng chí Tiểu đoàn phó kiêm Tham mưu trưởng Tiểu đoàn, Nguyễn Hữu Quang phụ trách, tiến hành đi trinh sát. Đoàn cán bộ có hai tổ, gồm 7 người. Do trên đường tiếp cận mục tiêu phải luồn lách qua hệ thống ấp chiến lược, với nhiều tuyến bố phòng của địch; phải vượt qua sông Trà Bồng, sang phía bờ bắc cầu Châu Ổ để điều tra, nên lực lượng đi trinh sát phải thật gọn, mới giữ được bí mật. Cũng như nhiều nơi khác, ở đây ta đã xây dựng được “đường dây” cơ sở cách mạng khá vững chắc. Đây là “tai mắt”, là lực lượng trinh sát “ngầm” vô cùng quý giá. Các cơ sở cách mạng đã cung cấp cho chúng tôi những tin tức rất có giá trị, và là một chỗ dựa vững chắc của chúng tôi tại vùng địch hậu.

Đây là trận đánh cầu có địch canh giữ, có hệ thống bảo vệ phức tạp, nên phải có bước chuẩn bị thật tốt, làm cơ sở cho niềm tin tất thắng đối với đơn vị và cơ sở cách mạng ở đây. Cần phải nói thêm rằng, trước đây, đã có đơn vị đánh cầu Châu Ổ bị “phơi áo ngoài rào”, không hoàn thành nhiệm vụ, thương vong cao...

Cầu Châu Ổ xây bằng bê tông cốt thép, chân hình trụ, dài khoảng 200 mét bắc qua sông Trà Bồng, nước sâu, chảy xiết.

Đại đội lính bảo an chốt giữ cầu, có hai phần ba lực lượng bố trí ở bờ Bắc, một phần ba ở bờ Nam. Trên các trụ cầu đều có lính thường trực canh giữ. Thỉnh thoảng, hoặc những lúc nghi ngờ, chúng thường ném lựu đạn xuống chân cầu. Dưới mố cầu cả hai phía Bắc và Nam, đều có lô cốt hình lục giác, được đúc bằng bê tông cốt thép, có lỗ châu mai bắn được mọi hướng, có hàng rào kẽm gai bao quanh lô cốt, bao quanh chân cầu và dọc theo bờ sông, dưới nước, đề phòng quân ta đột nhập từ dưới sông lên. Hai đầu cầu là trại lính. Bên bờ Nam cầu là chi khu quân sự đóng tại thị trấn Châu Ổ. Từ trại lính ở đầu cầu phía Bắc, có con đường đất đỏ rộng khoảng 6 mét, chạy dọc theo bờ sông, qua khu gia binh lên hướng Tây. Cầu đường sắt cách cầu Châu Ổ khoảng 1 km về phía Tây.

Đây là mục tiêu khá hóc búa về địa thế và sự bố phòng của địch. Nhưng cũng có thể vì vậy mà địch lại sinh ra chủ quan. Đêm đi điều nghiên là một thời khắc tôi không thể nào quên được. Dưới cái lạnh thấu xương cuối năm 1967, lực lượng trinh sát được du kích dẫn đường, tập trung tại một gia đình cơ sở cách mạng cách mục tiêu 500 mét về phía tây. Chúng tôi tổ chức thành ba tổ, với ba nhiệm vụ khác nhau. Tổ thứ nhất do đồng chí Ngô Đức Trân, tiểu đội trưởng, tiềm nhập theo bờ sông, đi dưới nước từ phía thượng lưu xuống, có nhiệm vụ đo chân cầu để về tính toán lượng thuốc nổ, xác định điểm đặt thuốc nổ và vị trí bố trí hỏa lực để tiêu diệt lô cốt dưới chân cầu.

Lúc này, tôi là đại đội phó, cùng đồng chí Bùi Văn Tôn, trung đội trưởng, đi trinh sát khu trại lính ở bờ Bắc, để làm kế hoạch tiến công trại lính, bảo đảm cho lực lượng đánh cầu; dù tình huống nào cũng hoàn thành được nhiệm vụ.

Bên bờ phía Nam, một tổ, do đồng chí Nguyễn Sương, trợ lý tác huấn chỉ huy, cùng với du kích nghiên cứu kế hoạch chế áp lực lượng ở chi khu Châu Ổ, không cho chúng chi viện sang bờ Bắc.

Sau khi đo được kích thước trụ cầu và tìm được vị trí đặt hỏa lực để tiêu diệt lô cốt đầu cầu, đồng chí Ngô Đức Trân lên gặp tôi ở lớp rào kẽm gai bùng nhùng, cách lô cốt khoảng 10 mét, để báo cáo kết quả điều tra. Nghe xong, tôi khoát tay, ra hiệu cho đồng chí Trân ra trước, vì nằm lại lâu trong bót địch không tiện, dễ bị nguy hiểm. Tôi và đồng chí Tôn nằm lại dưới chân hàng rào kẽm gai tiếp tục quan sát.

Do chủ quan, lúc đi ra, qua khu gia binh dọc bờ sông, đồng chí Trân không thận trọng như lúc tiếp cận, nên bị hai tên địch phát hiện. Chúng ném lựu đạn vào đồng chí Trân. Nhưng lựu đạn không nổ. Đồng chí Trân tưởng tôi ném đá làm tín hiệu gì đó, đang định quay lại, thì cũng là lúc bọn địch ném quả lựu đạn thứ hai. Biết đã bị địch phát hiện, đồng chí Trân vọt qua lớp rào đơn, ra ngoài. Tôi và đồng chí Tôn kẹt lại ở bên trong. Lúc đó là 23 giờ 30 phút ngày 25- 11-1967. Lập tức bọn địch từ trên cầu, trong các lô cốt và trại lính bắn ra bờ sông như vãi đạn. Đạn trung liên, đại liên bay chíu chíu trên đầu. Súng phóng lựu M79 của địch bắn theo hướng đồng chí Trân nổ như bắp rang. Các trận địa cối ở đầu cầu và trong chi khu Châu Ổ bắn đèn lên sáng rực cả một vùng. Chúng tôi nằm sát lớp rào kẽm gai mà lòng bồn chồn lo lắng. Rơi vào tình thế ấy đồng chí Trân khó có thể thoát khỏi lựu đạn và lưới lửa dày đặc của địch.

Đồng chí Ngô Đức Trân, quê ở huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, là một người to, khoẻ, nặng phải đến 70 kg, vui tính hay kể chuyện “tiếu lâm”. Ở đâu có Trân, ở đó sôi nổi hẳn lên. Trong chiến đấu đồng chí rất chai lỳ. Giao cho đồng chí chỉ huy tiểu đội đánh cầu, đại đội Hai rất tin tưởng. Đây là lực lượng chủ yếu để làm nhiệm vụ chủ yếu của trận đánh, là đánh sập cầu, nhằm đạt mục đích chính là chia cắt giữa bờ Nam với bờ Bắc cầu, gây khó khăn cho việc di chuyển lực lượng và tiếp tế của địch trên trục đường số 1 ở Quảng Ngãi. Lực lượng đánh cầu tuy ít, nhưng có vai trò đặc biệt quan trọng.

Tôi và đồng chí Tôn che chung một tấm vải dù hoa ngụy trang, nằm bên cống thoát nước đầy những rác rưởi. Hai anh em cầm hai khẩu súng ngắn K54 chĩa nòng về hai hướng và thống nhất với nhau rằng: Nếu bị địch phát hiện thì cứ nổ súng, rồi nhảy xuống sông bơi về hướng hạ lưu, thoát ra ngoài, tìm đường về đơn vị... Tuy là trong vùng địch kiểm soát, nhưng đại bộ phận nhân dân ta luôn hướng về cách mạng, chúng tôi sẽ được dân che chở.

Pháo sáng bắn lên, mỗi lúc một nhiều. Một toán năm tên địch, từ trong lô cốt dưới mố cầu, súng lăm lăm trong tay tiến ra và bắt đầu lùng sục dọc bờ sông. Chúng đi qua, cách chỗ hai chúng tôi nằm khoảng hơn ba mét. Chúng quay mặt ra hướng bờ sông, nên không phát hiện được chúng tôi đang nằm sau lưng chúng. Lúc này trời bắt đầu mưa, mỗi lúc càng nặng hạt. Tôi nhắm mắt cầu trời mưa thật to. Lùng sục một lúc theo hướng đồng chí Trân, không phát hiện được gì, trời đổ mưa xối xả. Bọn địch kéo vào một ngôi nhà trong khu gia binh, sát bờ sông. Hai chúng tôi bắt đầu bò ra bờ sông, đang tính lặn xuống nước bơi ra khỏi khu vực nguy hiểm, thì một con mèo hoang ở đâu đó chạy băng qua chỗ chúng tôi kêu “meo, meo”. Một con chó từ trong trại lính chạy ra sủa ăng ẳng. “Lạy chúng mày để cho chúng tao yên” - tôi lẩm bẩm. Nhưng con chó vẫn cứ sủa mãi, sủa mãi... Nó phát hiện được chúng tôi chăng? Tôi nghĩ vậy mà lạnh xương sống... Có lẽ bọn địch cho rằng, con chó đang sủa vì con mèo, nên chúng không lùng sục về phía chúng tôi.

Thời gian này, tôi là một chi ủy viên, phụ trách công tác thủ quỹ của chi bộ, có giữ một ít tiền và một ít giấy tờ cá nhân, vì chủ quan, nghĩ là không phải tiếp cận dưới nước, nên mang theo trong người. Tôi cho hết tiền bạc, giấy tờ vào một bọc ni lông, đưa cho đồng chí Tôn, ngậm vào miệng bảo đồng chí ra trước. Đồng chí Tôn quê ở huyện Quỳnh Lưu - Nghệ An, là một thanh niên trắng trẻo, đẹp trai nhất nhì trong đại đội, ở nhà làm nghề đi biển, đánh cá, bơi lội rất giỏi. Đồng chí trườn xuống sông, lặn một hơi, bơi ngầm dưới nước, rồi men theo bờ sông, thoát ra ngoài.

Đồng chí Tôn vào nhà cơ sở, trao bọc giấy tờ, tiền bạc của tôi cho đồng chí tiểu đoàn phó Nguyễn Hữu Quang. Vì mệt quá nên chưa có một lời giải thích, anh em tưởng tôi đã hy sinh trong đó. Tất cả ngồi lặng người, buồn bã...

Một lúc lâu sau, đoán biết đồng chí Tôn đã thoát được ra ngoài, tôi bò xuống sông. Tôi không lặn được như đồng chí Tôn mà đi ngầm dưới nước, ngửa mặt lên trời. Lúc qua dãy nhà bên bờ sông, tôi dựng cả tóc gáy, khi nghĩ đến việc địch sẽ phát hiện được mình. Nhưng rồi mọi việc đều trôi qua một cách tốt đẹp. Gặp lại đồng đội, mọi người vui mừng khôn xiết...

Qua thực tế nhận biết từ đợt đi chuẩn bị này và qua nhiều nguồn tin cơ sở cung cấp, đại đội tôi đã nổ ra những cuộc tranh luận sôi nổi và khá gay gắt, xoay quanh vấn đề: “Chọn hướng nào để tiến công đánh sập cầu”. Có hai ý kiến:

- Ý kiến thứ nhất: Nên tiến công trại lính và đánh sập một nhịp cầu ở mố phía Nam. Vì cho rằng, hướng này lực lượng bảo vệ cầu chỉ bằng một phần ba bờ Bắc. Bọn địch dựa vào chi khu quân sự và sát thị trấn Châu Ổ, nên rất chủ quan. Hướng này từ trước tới giờ chưa có đơn vị nào của ta tiến công, đường hành quân tiếp cận gần được một nửa, do không phải vượt sông Trà Bồng, không phải luồn lách qua hệ thống ấp chiến lược và những khu vực dễ bị địch phục kích bên ngoài, nhất là đoạn đường sắt. Xem ra ý kiến này rất có lý, nhất là sau lần đi chuẩn bị này đã xảy ra “sự cố” như đã nói ở trên.

- Ý kiến thứ hai: hoàn toàn ngược lại với ý kiến thứ nhất. Tức là, chọn hướng tiến công chủ yếu, đánh sập một nhịp cầu bên bờ Bắc. Lập luận cho rằng, tuy mục tiêu được bao bọc bởi hệ thống ấp chiến lược và lực lượng địch hoạt động bên ngoài, nhưng ở bên trong, bản thân mục tiêu vẫn có nhiều điểm yếu. Ngoài cùng là một lớp hàng rào đơn bằng kẽm gai, cách cầu khoảng 100 mét, có thể cắt được dễ dàng, có địa hình để triển khai Sở chỉ huy (vị trí chỉ huy của Tiểu đoàn), vị trí cứu thương, trận địa hỏa lực và các lực lượng phía sau. Trong chiến đấu, có địa hình thuận lợi để triển khai binh hỏa lực là yếu tố rất quan trọng. Lực lượng chi viện trực tiếp của địch là chi khu quân sự Châu Ổ ở bên bờ Nam, dễ bị ta chia cắt và ngăn chặn chúng ngay giữa cầu bằng hỏa lực bắn thẳng, không dễ gì chúng vượt cầu sang được bên bờ Bắc. Hướng này tuy đường hành quân xa, nhưng ta có thể lợi dụng những ruộng mía dọc bờ sông, địa hình kín đáo để đảm bảo bí mật và nâng tốc độ hành quân chiếm lĩnh. Nếu nắm chắc được khu vực hoạt động từ xa của địch thì lại càng thuận lợi trong việc luồn lách. Trước đây, đã có đơn vị bị thất bại khi đánh cầu này, thời gian đã khá lâu, đủ để xóa đi những “ám ảnh” của địch trong việc đề phòng ta tiến công. Ta tiến công địch lần này nằm trong thế tiến công của chiến dịch, sự phối hợp giữa các lực lượng trên một phạm vi rộng lớn. Địch đang hoang mang, dao động.

Sau “sự cố” vừa qua, lúc mưa to đã xóa đi dấu vết của chúng tôi để lại. Theo tin cơ sở của ta, lần đó địch cho rằng chúng “nhìn gà hóa cuốc”. Một điểm vô cùng thuận lợi cho ta là các gia đình cơ sở cách mạng rất vững tin. Họ sẽ theo dõi mọi diễn biến về tình hình địch và cung cấp cho ta kịp thời. Sau cùng, chúng tôi hạ quyết tâm là tiến công vào mục tiêu từ phía Bắc.

Nghị quyết chi bộ xác định: “lấy mục tiêu chủ yếu của trận đánh là “đánh sập một nhịp cầu cắt đứt giao thông huyết mạch của địch, tạo thuận lợi cho các đơn vị bạn đánh chiếm một số mục tiêu của chiến dịch”. Từ đó, yêu cầu công tác chuẩn bị phải chư đáo, trong mọi tình huống, phải hoàn thành được mục tiêu đề ra. Muốn vậy, công tác Đảng, công tác chính trị, phải xây dựng ý chí chiến đấu cao, chấp hành nghiêm chỉnh kỷ luật chiến trường.

Về công tác tổ chức chỉ huy, phải tiếp tục theo dõi, nắm chắc mọi diễn biến của địch ở bên trong và bên ngoài mục tiêu, thông qua mạng lưới cơ sở và sự phối hợp với du kích địa phương. Tư tưởng chỉ đạo tác chiến là: tận dụng yếu tố bí mật bật ngờ, đưa các lượng nổ vào trụ cầu, đồng thời sẵn sàng đánh chiếm trại lính, tiêu diệt bọn lính bảo vệ cầu, bảo đảm cho lực lượng đánh cầu hoàn thành nhiệm vụ. Mọi ưu tiên phải dành cho lục lượng đánh cầu. Tiêu diệt lực lượng bảo vệ cầu của địch, làm chủ trận địa, được coi là biện pháp hàng đầu.

Quyết tâm và kế hoạch chiến đấu của đại đội và Tiểu đoàn được Sư đoàn chuẩn y.

Hơn một tháng sau, ăn tết Nguyên đán xong, chúng tôi triển khai trận đánh phối hợp với các đơn vị hoạt động trong chiến dịch Xuân - Hè.

Hôm xuất quân, đêm 22 tháng 2 năm 1968, các mẹ, các chị trong hội phụ nữ đến động viên, gắn huy hiệu “cảm tử” cho tiểu đội làm nhiệm vụ đánh cầu. Địa phương huy động 50 dân công đi phục vụ trận chiến đấu, trước mắt giúp đơn vị mang vác các trang bị để bộ đội được nhẹ bớt trên đường hành quân tiếp cận; sau đó, làm nhiệm vụ tải thương.

Tiểu đội làm nhiệm vụ đánh trụ cầu gồm 6 đồng chí, mang theo 6 khối thuốc nổ, mỗi khối 20 kg. Tất cả 120 kg, chưa kể lượng nổ dự bị.

Sau khi vượt sông Trà Bồng sang bờ Bắc, chúng tôi men theo bờ sông, đi trong những vườn ngô, ruộng mía, tiến vào mục tiêu. Khi gần đến cầu đường sắt, bất ngờ gặp một lực lượng quân Mỹ phục kích. Một số đồng chí bị thương. Trong đó có đồng chí Tiểu đoàn trưởng Trần Văn Hồng. Lúc đó khoảng 21 giờ. Đội hình tạm thời dừng lại triển khai bên bờ sông. Lực lượng dân công mang theo bộc phá và một số trang bị giúp bộ đội, bị thất lạc. Một lúc lâu sau, đồng chí Nguyễn Duy Chinh, trợ lý chính trị tiểu đoàn đã cùng vời tổ trinh sát và du kích đi tìm và thu gom lại được. Chúng tôi rất lo lắng. Gặp lính Mỹ phục kích cách mục tiêu tiến công (cầu Châu Ổ) chỉ chưa đến một cây số, bọn lính bảo vệ cầu chắc chắn sẽ đề phòng. Lo nhất lúc này là chúng sẽ phái lực lượng ra ngăn chặn ta từ bên ngoài. Nếu vậy, tình huống sẽ phức tạp, khó lường...

Do ta không đánh trả, bọn Mỹ phục kích sau đó cũng im tiếng súng. Số anh em bị thương được băng bó và tiếp tục đi theo đội hình. Hơn một tiếng đồng hồ sau, đại đội đến được vị trí triển khai. Mặc dù bị địch phục kích trên dọc đường, nhưng tình hình trong mục tiêu vẫn im ắng, không có hiện tượng đối phó nào. Có lẽ chúng cho rằng đã có lực lượng ngăn chặn vòng ngoài, nên chủ quan chăng?

Hôm đi điều nghiên, ít người, cảm thấy lạnh lưng. Hôm nay cả một đại đội, có đầy đủ trang bị vào tiếp cận, ai cũng tự tin và rất yên tâm, không thấy sợ.

Vị trí chỉ huy của Tiểu đoàn triển khai trong khu vườn của gia đình cơ sở cách mạng mà lần trước đã giúp đỡ chúng tôi trong công tác chuẩn bị. Tại đây có đầy đủ cán bộ Tiểu đoàn: đồng chí Trần Văn Hồng, Tiểu đoàn trưởng (bị thương nhẹ); Trần Hữu Biền, Chính trị viên; Nguyễn Hữu Quang, Tiểu đoàn phó. Trận địa cối 82 bố trí gần bờ sông. Phía sau vị trí chỉ huy Tiểu đoàn là trạm sơ phẫu và lực lượng dân công. Các anh đã cho đào một số huyệt để nếu có hy sinh thì giải quyết chôn cất. Trong chiến đấu, mọi tình huống đều có thể xảy ra. Nhiều khi buổi tối lúc ăn cơm, mỗi mâm còn đủ 6 người. Sau trận đánh, có thể sẽ mất đi một, hai người là chuyện thường xảy ra đối với người lính chiến. Không có thắng lợi nào mà không phải trả giá. Đêm nay, ai cũng suy nghĩ và đặt cho mình tình huống cao nhất, có thể hy sinh và chôn cất trong những cái huyệt vừa mới đào kia tại trạm sơ phẫu của tiểu đoàn. Song, một trăm phần trăm cán bộ, chiến sĩ ở đại đội Hai này không có ai tháo lui, và bây giờ sắp bắt đầu nổ súng tiến công địch. Trên các hướng, các mũi tiến công có anh chị em du kích dẫn đường và cũng tham gia chiến đấu với bộ đội. Một lần nữa, nhân dân Bình Sơn, Sơn Tịnh tỉnh Quảng Ngãi lại thể hiện tinh thần dũng cảm, kiên cường, không ngại hy sinh, gian khổ, sát cánh cùng bộ đội chủ lực chiến đấu để giải phóng quê hương.

Chúng tôi áp dụng phương án: tập trung lực lượng tiến công địch ở đầu cầu phía Bắc; sử dụng một lực lượng nhỏ, cùng với du kích địa phương, chế áp địch ở đầu cầu phía Nam và chi khu quân sự Châu Ổ bằng cách phóng 6 khối thuốc nổ, mỗi khối 20 kg thuốc TNT, chi viện cho lực lượng chủ yếu của ta ở bờ Bắc.

Lúc 23 giờ 45 phút, toàn đại đội đã hoàn thành mọi công tác chuẩn bị. Tổ hỏa lực B40, do đồng chí Tuất chỉ huy, đã kê súng lên hàng rào, chuẩn bị tiêu diệt lô cốt gần trụ cầu. Lực lượng chiến đấu trên bộ, cải trang như những chiến sĩ đặc công, đã áp sát khu nhà lính. Mọi người cầm lựu đạn trong tay, sẵn sàng ném vào nhà, nơi bọn lính đang ngủ. Tiểu đội đánh cầu đã đặt xong thuốc nổ xung quanh trụ cầu, địch ngồi gác trên cầu, trong lô cốt gần đó không hề hay biết. Bên bờ Nam, bộ đội và du kích đã liên kết xong 6 khối thuốc nổ, sẵn sàng, có lệnh là phóng vào chi khu quân sự và trại lính, bằng kỹ thuật “bộc phá phóng 320” ().

Đúng lúc này, đồng chí Trân, Tiểu đội trưởng kiểm tra lại đồ dùng gây nổ, phát hiện số kíp hẹn giờ đã bị tuột khỏi các khối thuốc nổ và rơi xuống sông. Thật là tai hại! Một tình huống tuy đã có dự kiến, có phương án xử trí, nhưng chúng tôi vẫn cảm thấy bàng hoàng, vì không thể ra ngoài để lấy kíp hẹn giờ khác.

Những người đã trải qua chiến đấu, sẽ hiểu được tác hại của những sơ xuất có tính xương máu này. Tôi ngồi ở vị trí chỉ huy, cách cầu khoảng 30 mét, đưa tay nhìn đồng hồ mà hết sức lo lắng. Chiếc đồng hồ dạ quang chỉ đúng 23 giờ 50 phút. Ra ngoài lấy kíp hẹn giờ khác? Không được! Trễ mất rồi! Cho điểm hỏa nụ xùy? Còn sớm hơn theo hiệp đồng 10 phút! Chờ đến giờ G của chiến dịch? Nhỡ ra... mất thời cơ!... Tôi cho liên lạc chạy ra báo cáo Tiểu đoàn. Trong giây phút lúng túng đó, đồng chí Trân đã quyết định điểm hỏa bằng cách giật nụ xùy; sớm hơn giờ G gần 10 phút.

Lập tức bọn địch trên cầu la hét, bắn và ném lựu đạn xuống sông. Chúng đã báo động chiến đấu.

Quả đạn B40 của đồng chí Tuất bắn sập ngay lô cốt bảo vệ cầu, tiêu diệt luôn số địch ở trong đó. Ở trên bộ quân ta nhanh chóng đánh chiếm trại lính, hất chúng xuống phía Đông đường số 1. Một tiếng nổ long trời lở đất của 120 kg thuốc nổ TNT làm sập hai nhịp cầu xuống lòng sông đang chảy xiết, hất tung cả tổ hỏa lực B40 của đồng chí Tuất ra xa mấy mét.

Tại vị trí chỉ huy, tôi ngẩng đầu lên quan sát. Vui mừng không thể tả xiết, khi tận mắt nhìn thấy hai nhịp cầu hoàn toàn đổ xuống dòng sông. Chiếc trụ cầu bê tông với bề ngang bằng một sải tay và thêm bốn gang tay, đã bị bay mất, chỉ để lại một dòng nước chảy xiết. Tôi hân hoan nghĩ thầm: “Thế là đơn vị mình đã hoàn thành nhiệm vụ!”.

Bên bờ phía Nam, tổ bộc phá cũng phóng vào chi khu quân sự Chân Ổ, sáu khối thuốc nổ, mỗi khối 20 kg thuốc nổ TNT, làm cho bọn chúng ở bờ phía Nam không phản ứng, chi viện được.

Chưa đầy 30 phút đồng hồ, lực lượng đánh địch trên bộ ở bờ Bắc cũng hoàn toàn làm chủ trận địa. Các dãy nhà lính của địch dọc đường quốc lộ 1, bốc cháy dữ dội. Tôi và đồng chí Tôn vượt qua một khoảng sân, theo sau đội hình bộ binh, lợi dụng một lô cốt bằng bao cát đã bị bắn sập để theo dõi diễn biến trận đánh, tiếp tục chỉ huy bộ đội. Bỗng nghe ở đâu đây có tiếng rên khe khẽ. Tôi vỗ vai đồng chí Tôn để cùng lắng nghe. Đúng rồi, có ai đó bị thương đang nằm rên bên một góc sân. Qua ánh sáng của những đám cháy tôi nhận ra ngay đồng chí Thanh, tiểu đội trưởng, chỉ huy mũi chính diện, tiến côngvào khu trại lính. Trong một trận đánh trước đó, đồng chí Thanh được tặng thưởng huân chương chiến công hạng nhất, vì có thành tích xuất sắc, ôm bộc phá lên phá rào trong trận đánh công kiên, vừa hoàn thành nhiệm vụ được giao; vừa làm nốt nhiệm vụ của đồng chí bên cạnh khi đồng chí đó bị hy sinh. Trận này, đồng chí bị thương khá nặng. Trong hơi thở gấp gáp, đồng chí hỏi chúng tôi:

- Cầu đã bị đánh sập chưa và anh em mình đã đánh đến đâu rồi?

Ngước mắt nhìn tôi, Thanh nói khẽ:

- Em sẽ không qua khỏi đâu! Thủ trưởng cứ để em lại đây tiếp tục chỉ huy đại đội cho hoàn thành nhiệm vụ!

Nuốt cảm xúc vào bụng, tôi động viên Thanh:

- Thanh cố gắng chịu đựng, chúng tôi sẽ đưa đồng chí ra ngay. Cầu đã bị sập hai nhịp, đại đội ta đã làm chủ hoàn toàn trận địa!

Tiếc thương thay, sau khi đưa Thanh ra đến trạm phẫu, do vết thương quá nặng, anh đã hy sinh... để lại trong chúng tôi niềm đau xót và cảm phục vô hạn.

Trận đánh thắng lợi, đại đội chúng tôi được tặng thưởng huân chương Chiến công hạng nhất thay vì huân chương Quân công, do nổ súng trước giờ quy định của chiến dịch, đã gây khó khăn cho một số đơn vị gần đó. Đây là bài học đắt giá về ý thức chấp hành mệnh lệnh hiệp đồng chiến đấu, mà những người chỉ huy như chúng tôi thấy thấm thía.

Chiến dịch mở ra, quân địch bị tiến công khắp nơi. Trên chiến trường Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định đồng loạt tiến công, đẩy địch vào thế bị động, đối phó lúng túng. Đường giao thông huyết mạch bị cắt nhiều khúc. Sự chi viện giữa vùng này sang vùng khác của địch rất khó khăn. Thị xã Quảng Ngãi bị uy hiếp. Viên tư lệnh Sư đoàn 2 quân đội Sài Gòn, Thiếu tướng Nguyễn Văn Toàn vô cùng bối rối, phải cầu cứu đến bộ binh, xe tăng của Sư đoàn American Mỹ chi viện, giải tỏa. Nhưng chính các đơn vị bộ binh, xe tăng Mỹ cũng đang bị ta cầm chân trong các căn cứ, không thoát ra được.

Trong thế chiến lược mới của cách mạng Việt Nam, các lực lượng vũ trang ta, gồm ba thứ quân đã phát triển đều khắp trên chiến trường. Phong trào đấu tranh của quần chúng đã trở thành cao trào ở cả ba vùng chiến lược áp dụng phương châm kết hợp “hai chân, ba mũi” ở mọi nơi, mọi lúc, làm cho hàng ngũ địch mau tan rã. Nếu không có sự chi viện trực tiếp của quân Mỹ, quân Nam Triều Tiên, chính quyền phản động Sài Gòn sẽ không thể tồn tại được đến mùa xuân năm 1975.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
TRẬN ĐÁNH CẦU CHÂU Ổ | Câu chuyện thời hoa lửa