Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

TRẬN ĐÁNH CUỐI CÙNG

Đoạn hồi ký là những dòng ký ức đầy xúc động và chân thực của người tiểu đội trưởng bộc phá thuộc Đại đội 671, Tiểu đoàn 251 (Trung đoàn 174) về trận quyết chiến cuối cùng trên đồi A1 đêm mùng 6/5/1954. Giữa cái nắng tháng 5 hầm hập và mùi tử khí rợn người, tác giả đã tái hiện sống động tâm thế của một thế hệ "ra đi không hẹn ngày về": từ cái bắt tay đầy quyết tâm của những người đồng đội vừa nhận tin người thân bị giặc sát hại, đến hình ảnh các chiến sĩ mặc bộ quần áo mới nhất, thanh thản ăn bữ

Lai Châu03/03/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã được năm chục năm. Thời gian qua đi gần hết cuộc đời. Nhiều trận chiến đấu tiếp theo, mỗi trận đều để lại trong tôi những kỷ niệm. Nhưng sâu sắc nhất không bao giờ quên được là trận đánh cuối cùng vào đồi A1 đêm 6 tháng 5 năm 1954.

Sau trận mưa rào xối xả, bùn nước ngập ngụa giao thông hào. Cái nắng tháng 5 như đổ lửa lại ập xuống hun nóng cả lòng chảo Điện Biên. Nóng hầm hập, nóng như thiêu như đốt. Cái nóng đặc biệt kèm theo gió Lào của miền Tây càng làm cho con người chán ngán mùa hè Tây Bắc.

Trên trời vẫn ầm ì tiếng máy bay vận tải. Tiếng trọng pháo của ta trên đỉnh Pú Hồng Mèo lẻ tẻ bắn vào khu trung tâm Mường Thanh.

Trên khoảng trống sườn đồi, bên con suối cạn gần Khe Chít, đại đội trưởng Lâm Viết Hữu hạ đạt mệnh lệnh chiến đấu trên sa bàn. Ngoài số cán bộ trong đơn vị, còn có đồng chí chủ nhiệm chính trị đại đoàn Nguyễn Kiện tham dự.

Từ truy kích tiêu diệt địch ở Mường Pồn, làm đường kéo pháo, làm trận địa bao vây đến cuộc tiến công đêm 30 tháng 3 năm 1954 vào A1, đại đội 671 là đơn vị chủ công của tiểu đoàn 251 - trung đoàn 174. Quân số đại đội thương vong nhiều, đại đội trưởng Hồng Tân bị thương, đại đội phó Quyết hy sinh... lực lượng chẳng còn được là bao. Để chuẩn bị cho trận đánh mới, tiểu đoàn đã điều một số cán bộ chiến sĩ ở các đại đội 672, 673 và 674 sang bổ sung. Các anh đại đội trưởng Hữu, đại đội phó Dy và tôi cũng nằm trong số đó. Mọi vấn đề 671 đều được ưu tiên vì lẽ đại đội này vẫn là con chim đầu đàn của tiểu đoàn 251.

Mệt vì chiến đấu liên tục, ác liệt, thiếu thốn, mất ngủ, thời tiết... vì chi phối khách quan của chiến tranh, chúng tôi ai nấy mặt mày hốc hác, mắt thâm quầng. Nhưng hôm nay nhận nhiệm vụ đánh vào A1 từ hướng tây nam, giữa A3 và A1, đánh thẳng vào “ụ thằng người”, chặt đứt con đường cơ động của bộ binh và xe tăng lên A1, ai nấy đều phấn khởi và tin tưởng, nhất là được thông báo lấy tiếng nổ của khối bộc phá một tấn làm hiệu lệnh nổ súng cho toàn chiến trường. Chúng tôi theo dõi mệnh lệnh chiến đấu thật nghiêm túc nhưng cũng rất say sưa hồ hởi.

Các chiến sĩ bộc phá chúng tôi ai cũng muốn được trực tiếp tiêu diệt “ụ thằng người”. Tiểu đội tôi còn được phân công đánh các ụ 13, 14. Thật nặng nề, nhưng lúc ấy tôi tin tưởng và vui vẻ nhận nhiệm vụ. Tôi hứa quyết tâm với đại đội trưởng, thật tự nhiên, không vướng mắc, không một lời đề nghị. Tôi tin với một niềm tin sắt đá ở anh em trong tiểu đội, tin vào cách đánh, hướng đánh và quyết tâm của đại đội trưởng trong trận này.

Sau khi nhận lệnh, tôi về hầm cùng anh em bàn bạc quán triệt nhiệm vụ và hạ quyết tâm. Tôi còn nhớ đầy đủ những người trong tiểu đội trước đó: tiểu đội phó Hòa, các chiến sĩ Việt, Phùng, Văn, Chỉ, Luận, Phấn, Tậu, Sâm. Hai ngày trước, tiểu đội còn đầy đủ chục người. Thế mà chỉ có một đêm mới đây thôi đã có hai người - Tậu và Sâm - không trở về nữa.

Phấn trước ở đơn vị nào tôi không rõ, chỉ biết trong trận đánh A1 lần trước bị lạc đơn vị, gặp chúng tôi trong đồn, anh xin phối hợp rồi về ở luôn 671. Trong khi tiểu đội bàn bạc có một đồng chí già, dáng hom hem gầy yếu cùng dự. Tôi không biết anh là ai, anh cũng chẳng nói gì nên tôi không giới thiệu. Sau này, tôi mới biết anh là Nguyễn Kiện - Chủ nhiệm chính trị đại đoàn, đến giúp đỡ đại đội chủ công. Khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp, anh được đề bạt chính ủy đại đoàn.

Tôi tự hào về tiểu đội của tôi. Hầu hết anh em đã lặn lội với A1 lần trước và đều là những người dũng cảm chiến đấu, được điều về đại đội chủ công. Chúng tôi ý thức được nhiệm vụ nặng nề ác liệt của trận đánh đêm nay nhưng ai nấy đều nhận nhiệm vụ với tinh thần quyết chiến và quyết thắng.

Trao đổi xong, không ai bảo ai, chúng tôi đều mặc bộ quần áo mới nhất. Âu cũng là lẽ thường tình của người chiến sĩ cách mạng, chiến đấu với tinh thần lạc quan tin tưởng, nhưng cũng sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc.

Tôi được đại đội phó Dy gọi ra ngoài trao cho bức thư của anh họ tôi ở quê gửi lên, báo tin bác tôi mới bị Tây bắn chết. Tôi bằng hoàng, nước mắt trào ra.

Anh Dy vỗ vai an ủi tôi rồi nói:

- Đêm nay cậu định thế nào?

- Tôi có thêm một mối thù đem vào trận này. Ta thi đua ông nhé!

Hai người chìa tay nắm chặt. Tôi không ngờ rằng đó là cái bắt tay cuối cùng với Dy. Dy đã hy sinh do loạt cối 120 ly cuối cùng của địch bắn vào A1, và cũng là người lính cuối cùng của tiểu đoàn ngã xuống trước giờ chiến thắng.

Tôi vào trận đánh hôm nay mang thêm một mối thù. Nhiều anh em tranh thủ biên thư về nhà, tôi thì không. Quê tôi ở địch hậu, vả lại còn bao nhiêu việc phải lo, phải làm của người tiểu đội trưởng bộc phá.

Trong cuộc mới thấy hết phẩm chất cao quý của anh em ta bấy giờ. Gian khổ thiếu thốn là thế, ác liệt đến kinh hoàng, trận trước chưa giành thắng lợi mà thương vong quá nửa. Hai đêm liền, tiểu đội tôi hy sinh hai đồng chí. Vậy mà hôm nay bước vào trận chiến đấu mới, vào nơi sinh tử, các đồng đội của tôi thanh thản, háo hức đến lạ lùng.

Làm công tác chuẩn bị thật tấp nập vui vẻ, anh em cười nói râm ran. Tôi kiểm tra lại vũ khí của từng người: Mỗi người sáu quả thủ pháo và một khối bộc phá từ 10 đến 15 cân trên lưng. Riêng Luận mang theo một bộc phá ống. Tất cả đều phải mang hai cơ số đạn, đề phòng phải làm công sự lâu dài. Rút kinh nghiệm của lần trước, giao thông hào trong đồn nông choèn, pháo địch san bằng không còn chỗ ẩn nấp.

Vừa lúc đó Phấn và Việt nhận cơm nắm về, tiêu chuẩn mỗi người hai, cho bữa chiều và sáng hôm sau. Với một giọng Nghệ An nhỏ nhẹ, Văn nói:

- Đề nghị tiểu đội trưởng cho anh em làm tất một bữa. Vừa no lại vừa nhẹ - anh giải thích - ở cửa mở bùn đến đầu gối, ăn chi được, đêm bận đánh nhau, à mà chết thì...

Cả tiểu đội cười ồ.

- Còn sống, vào đồn thiếu gì đồ hộp. Mà mai chiến thắng chẳng cần ăn cũng no.

Trong bụng tôi thoáng nghĩ như Văn nên tôi lờ đi kệ anh em xử sự.

Mọi việc vừa xong thì được lệnh tập hợp ở một bãi đất bằng phẳng đầu giao thông hào. Tiểu đoàn tổ chức gắn huân chương cho số anh em lập nhiều chiến công trong trận đánh A1 lần trước như: các anh Hữu, Thêm, Phấn, Ẩm, Cầu, Viêm và cả tôi. Người tôi nóng ran xen lẫn tự hào. Tôi đứng cạnh Viêm, huých nhẹ vào tay anh và liếc nhìn từng khuôn mặt. Đồng đội chúng tôi đây, mỗi người từ một làng quê Khu 3, Khu 4, Việt Bắc, nhiều anh em trong vùng địch hậu, đã nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc cùng về đây chiến đấu. Tất cả bắt nguồn từ cuộc cách mạng giải phóng dân tộc tạo nên tình đồng chí gắn bó chúng tôi suốt những năm kháng chiến trường kỳ và đêm nay chúng tôi lại cùng nhau bước vào trận đánh mới.

Tiểu đoàn trưởng Dũng Chi ra lệnh ngắn gọn:

- Đại đội 671 đêm nay phải kiên quyết làm tròn nhiệm vụ. Phải cùng toàn đơn vị xử tử đồi A1 để trả thù cho các đồng chí đã hy sinh.

Lòng tôi bồi hồi xúc động nhớ đến bao đồng chí đã ngã xuống. Từ làm đường kéo pháo: chính trị viên Lê Hương, trung đội trưởng Minh, Đàn, Vỹ, Phùng...Rồi trận bom rải thảm vào khu vực trú quân của 673 làm mất đi tám người vì sập hầm... Tiểu đội trưởng Ý hy sinh ở bản Nà Ten... Đại đội trưởng Trứ bị mìn khi chỉ huy làm trận địa, chiến sĩ thi đua trung đoàn Lý Văn Con ngã xuống khi tiếp tế cho đồng đội, rồi trận bom ác liệt đánh vào Đồi Cháy...

Đại đội 673 bị nhiều cơn sốc nặng, quân số chẳng còn được là bao. Tôi và Viêm nằm trong số còn lại được điều sang 671. Lúc ấy chúng tôi thấy vinh dự vì được sang đại đội chủ công. Rất tiếc đêm ấy Viêm đã hy sinh sau khi vượt qua cửa mở.

Chúng tôi được lệnh dàn đội hình dưới những bụi nứa non lúp xúp. Trời đã về chiều nhưng còn nắng gắt. Anh em trợ chiến phía sau, tôi thoáng thấy Bân xách đại liên. Cậu ấy đã nhiều lần chi viện cho chúng tôi chiến đấu.

Khoảng 15 giờ 30, chúng tôi được lệnh xuất phát. Phút mong chờ nóng ruột đã đến. Chúng tôi sải những bước dài nhanh gần như chạy. Anh Hữu đi trước tiểu đội. Tôi đi sau tổ 1, quan sát anh em thấy còn tất cả, rất mừng, yên tâm không có gì đáng ngại. Đi được một quãng thì gặp Ngọc Tân. Anh đứng bên đường nắm tay tôi nói:

- Chúc cậu lập chiến công.

Tôi chỉ kịp ngoắc tay anh rồi chạy theo tiểu đội.

Ngọc Tân với tôi cùng nhập ngũ một ngày. Chúng tôi có những nét tương đồng nên tâm đầu ý hợp. Hôm truy kích chặn địch chạy từ Lai Châu về Mường Pồn, gặp nhau trên đỉnh 2012 (Pa Thống) trưa ngày 10 tháng 12 năm 1953. Từ đỉnh cao ngất trời này chúng tôi nhìn ra xung quanh: Trời xung quanh vẫn nắng mà chỗ chúng tôi mưa rả rích, rét thấu xương. Xa xa nhiều đỉnh núi xanh lơ lô nhô lên giữa những tầng mây bạc bồng bềnh trắng xốp. Với tâm hồn lãng mạn của tuổi thanh niên học sinh, đứng trước quang cảnh hùng vĩ ấy, lại gặp bạn tri kỷ, tôi chợt nhớ đến bốn câu thơ mình đã làm khi hành quân qua bến Phương Lâm (thị xã Hòa Bình) mà Tân biết. Lúc đó, tôi nắm tay anh và đọc:

Đây những khu rừng xanh cỏ biếc
Những con đò, những quán tranh xưa


Tân mỉm cười đọc tiếp:

Đêm nay u uất hồn cô quạnh
Đường vẫn còn vương mộng hải hồ.


- Hai câu này của Quý, tớ vẫn nhớ đấy chứ. - Tân nói.

Chúng tôi lại ngoắc tay nhau rồi đi tiếp.

Sau lần ấy, bẵng đi một thời gian dài không gặp, tình cờ đêm 3 tháng 5 năm 1954 tôi đào trận địa gần Đồi Cháy, gần sáng bỗng nghe tiếng gọi. Tôi quay lại thấy Tân ngồi ở cửa hầm liên lạc tiểu đoàn. Lâu ngày gặp lại nên mừng quá, tôi vào hầm tầm sự với anh vài phút cho đỡ nhớ. Bất ngờ và cũng rất may, vào chưa kịp ngồi xuống thì một quả đạn cối từ A1 bắn xuống đúng chỗ tôi vừa đứng. Anh Tậu - người tiểu đội phó của tôi hy sinh ngay tại chỗ ấy...

Tậu hơn tôi vài tuổi, quê ở huyện Thanh Hà - Hải Dương nhập ngũ đầu năm 1952 khi trung đoàn 174 vào chiến đấu trong vùng sau lưng địch. Anh làm anh nuôi, là đảng viên. Đơn vị thiếu người nên được điều sang chiến đấu. Trong hàng ngàn đồng đội nằm lại Điện Biên, mộ anh ở đâu tôi không rõ, nhưng gần 50 năm rồi, mỗi lần gặp Ngọc Tân, chúng tôi vẫn nhắc đến tên anh với lòng tiếc thương vô hạn...

Chúng tôi vận động dưới hào giao thông, thỉnh thoảng gặp chỗ kín đáo lại nhảy lên mặt đất chạy cho nhanh vì nắng chiều gần tắt, tranh thủ ra bìa rừng trước khi trời tối. Ra đến cánh đồng mọi việc đều thuận lợi. Giao thông hào sâu ngập đầu người, rộng tránh được nhau nên mặc dù có bùn vẫn đi nhanh được. Trời vừa tối, chúng tôi tới con suối cạn cạnh bản Pom Loi. Tôi nhận ra tiếng tiểu đoàn trưởng Dũng Chi đang điều chỉnh đội hình:
- 671 khẩn trương vào cho kịp giờ!

Lúc này có tiếng pháo bắn thẳng của ta nã vào cửa mở, tôi đoán được là DKZ 75 trên mới tăng cường. Phía A1 địch cũng bắn cối ra cửa mở và sau đồi Cháy.

Sương đêm đã thành những màng mỏng bay là là mặt đất. Một cơn gió nhẹ thoảng qua mang theo mùi tử khí làm cho cả không gian mênh mông như chứa đựng một cái gì rờn rợn.

Tôi nhìn lên sườn nam Đồi Cháy, sương che còn hở chỏm, thấp thoáng có bóng người. Tôi biết trên đó có trận địa hỏa lực của ta chốt giữ từ sau ngày 30 tháng 3. Chợt thấy lập lòe bật lửa, tôi thầm nghĩ lại thuốc lào, đúng là bạn nghiền của tiểu đoàn phó Trương Kim Tiến.

Chúng tôi tiếp tục lội dưới giao thông hào, bùn ngập đến đầu gối. Đến một chỗ nơi khô, tôi biết là đã gần cửa mở. Đến miệng cái cống gạch xuyên qua đường cái 41 tôi gặp chiến sĩ thông tin đường dây đang ngồi cạnh máy vô cùng bình thản. Tiểu đoàn phó Trương Kim Tiến đợi ở đấy và cùng đi vào chiến đấu với đại đội chủ công.

Dưới ánh pháo sáng tôi nhận ra “ụ thằng người”. Tiểu đội tôi dừng lại trước cửa mở cách nó chừng bốn chục mét. Lúc này, một chiếc máy bay đến thả liền tám cái đèn dù làm cho cả không gian mênh mông mờ mờ ảo ảo. Cối địch từ A1 lại bắn cầm canh xuống cửa mở. Nhờ hào sâu nên chúng tôi vẫn an toàn và bí mật. Súng đạn đầy người, mang vác nặng, anh em chúng tôi bỏ lại hầu hết cơm nắm. Hào đầy bùn, chúng tôi dùng xẻng đánh bậc vào thành hào để ngồi cho đỡ mỏi. Phút chờ đợi thật căng thẳng. Tôi cố căng mắt ra nhìn cho rõ đường lên “ụ thằng người”. Sương đêm bắt đầu dày, ánh đèn dù leo lét, cái còn cái tắt, "ụ thằng người" như một cái bóng, lúc xa xa gần gần, hư hư thật thật, khó phán đoán những gì bí mật trong đó.

Qua ánh đèn dù tôi nhìn lên A1. Sao nó to và dài thế, khác hẳn từ bên Đồi Cháy nhìn sang.

Trong sự chờ đợi kéo dài, tôi bỗng nhớ đến quê nhà, đến ông bà và mẹ. Nơi ấy có bao nhiêu người thân của tôi đang ngóng chờ và hy vọng. Tôi thầm gọi mẹ và như muốn nói với mẹ tôi:

Mẹ ơi đốt mớ lửa hồng
Biết đâu một buổi chiều đông con về.


Mẹ ơi! Con biết mẹ không buồn sao được vì cả nhà chỉ có mình con là trai. Thầy con hy sinh đã bảy năm. Trong bao năm, mẹ đành lòng kéo dài những ngày đau thương, hy vọng độc nhất là thấy con trở về. Mẹ ơi! Nếu trận chiến đấu này con có hy sinh thì mẹ cũng hiểu cho là: Vì nghĩa vụ thiêng liêng và lòng yêu đất nước, con đã làm đúng...

Bỗng có lệnh truyền lên: "Tất cả quay lưng về A1, há mồm ra, bịt tai lại chờ bộc phá nổ".

Lệnh đó làm tôi trở lại với “ụ thằng người” và ụ 13 với 14. Tôi không tin là khối bộc phá tấn đặt phía dưới hầm ngầm lại có tiếng nổ to đến như vậy. Là mệnh lệnh thì tôi phải chấp hành nhưng vẫn tò mò ngoái cổ nhìn lên A1.

Ngay bấy giờ một tiếng nổ âm rền ục ục. Đất dưới chân tôi rung chuyển, bùn nước trong chiến hào sóng sánh, đất lửa thành một khối kèm theo những khúc gỗ nắp công sự và cọc dây thép gai bốc lên cao rồi ào ào rơi xuống.

Sau đó các cỡ pháo của ta từ khắp các trận địa trong lòng chảo, từ dãy Pú Hồng Mèo ầm ầm bắn vào A1 và C1. Pháo của địch từ Hồng Cúm và Mường Thanh thi nhau bắn vào cửa mở và khu vực nam đồi Cháy. Đạn nổ dưới đất, đạn nổ trên không nghe chát chúa, cả không gian Điện Biên rực sáng, bụi đất khói đạn mù mịt. Tất cả tạo nên những đợt sấm rền, những tia chớp khét lẹt, cả khu đông rung lên bần bật.

Chờ mãi chẳng thấy lệnh xung phong, tôi nhắc Việt - tổ trưởng tổ 1 - chú ý phía trên. Bỗng hàng loạt tiếng bộc phá ống nổ ròn đều đặn, Việt quay lại báo cáo đằng trước có lệnh lên. Tôi thúc tiểu đội xung phong. Thật sung sướng là anh em còn nguyên vẹn cả.
Chúng tôi chạy một mạch qua cửa mở. Một vài đồng chí hy sinh. Khi gần đến “ụ thằng người”, tôi thấy hầu hết bộ phận trước nhảy cả xuống một hố vuông rộng và sâu gần đến ngực. Có tiếng Viên gọi: anh Quý xuống đây! Thấy hố quá đông, tôi cho cả tiểu đội nằm dàn một hàng dọc, hướng "ụ thằng người”. Bỗng có tiếng gọi bộc phá khối. Tôi lăn sang lấy khối bộc phá 15 cân của Chỉ, lao lên và phát hiện một miệng hầm. Tôi nhanh chóng giật nụ xòe. Vừa kịp ném xuống thì như có một mũi khoan từ dưới vọt lên đâm thẳng vào giữa mặt. Tối tăm mặt mũi, mắt tóe lên những hạt sao sa, tôi gục xuống. Ngay sau đó, một tiếng nổ ầm. Người tôi tung lên rồi rơi xuống, máu mồm máu mũi ộc ra. Từ đó tôi không còn biết gì hơn nữa.

Năm mươi năm đã trôi qua.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, tôi tham gia nhiều trận đánh ác liệt, đánh công sự vững chắc, nhưng A1 vẫn là một trận đánh tiêu biểu về nhiều mặt, cách đánh độc đáo, dài ngày nhất và có lẽ cũng là trận mà đồng đội của chúng tôi ra đi nhiều nhất.

... Nhân dịp kỷ niệm 40 năm chiến thắng Điện Biên Phủ - 7 tháng 5 năm 1994 - tôi may mắn được cùng đoàn Cựu chiến binh Đại đoàn 316 thăm lại chiến trường xưa. Cùng đi có cả anh Lâm Viết Hữu - người đội trưởng 671 năm xưa, liên lạc Ngọc Tân - bạn thân của tôi. Qua hai ngày đi đường vất vả, qua bao địa danh quen thuộc: Mộc Châu, Chiềng Pàn, Chiềng Đông, Cò Nòi, Hát Lót, Nà Sản... trưa ngày 2 tháng 4 năm 1994 chúng tôi dừng xe trên đỉnh Pha Đin. Từ đây nghe gió ngàn vi vút mà như âm hưởng xa xăm của khúc quân hành chúng tôi hát 40 năm về trước còn đọng lại hôm nay. Ôi biết bao nhiêu đồng bào, đồng chí đã ngã xuống, bao bà mẹ chờ con mỏi mắt, bao nhiêu người con gái đã phải mang trên đầu những chiếc khăn tang bởi những người ra đi không bao giờ trở lại. Có được hạnh phúc hôm nay, chúng ta đã phải trải qua bao nhiêu là cay đắng, bùi ngùi, xúc động.

... Lần theo trí nhớ, chúng tôi lên “ụ thằng người” không một chút ngỡ ngàng. Dừng lại đó, nhìn bao quát xung quanh, nhìn hướng cửa mở, cố tìm dấu vết một ngách chiến hào xưa nhưng chẳng còn. Ôi! Bao nhiêu kỷ niệm thời trai trẻ lại ào ạt quay về. Chúng tôi lặng người, buồn vui lẫn lộn. Những giọt nước mắt trào ra. Tôi nhớ như in từng khuôn mặt, từng tên những đồng chí đã ngã xuống nơi này. Tôi xin kính cẩn nghiêng mình tưởng nhớ đến các đồng chí đã hy sinh trên đồi A1. Tôi xin gửi lời chào đến tất cả các đồng chí đã từng một lần qua cửa mở tiến công vào A1, nay ở mọi miền đất nước.

Chúng tôi lặng lẽ cùng nhau xuống Nghĩa trang A1, thắp bó hương trên khu tưởng niệm. Lòng tôi xao xuyến bồi hồi nhìn về Đồi Cháy, Khe Chít, dãy Pú Hồng Mèo, ... nơi trung đoàn tôi tập kết đánh Điện Biên Phủ. Nhìn ra cánh đồng Mường Thanh, nhìn phố Điện Biên đang dự báo một viễn cảnh vươn lên cùng cả nước.

Anh Hữu, Tân và tôi đi vào Điện Biên mới ở tuổi 20, nay đã trên thất tuần, thay đổi nhiều, tóc đã bạc, không còn nhanh nhẹn nữa, nhưng tình đồng đội của chúng tôi vẫn mặn nồng như những ngày Điện Biên rực lửa.

Toàn bộ cuộc đời chiến đấu đã để lại trong tôi bao kỷ niệm sâu sắc về những trận đánh, những nẻo đường, tên núi, tên sông, tên những con người, những bản làng heo hút tôi đã đi qua, bao kỷ niệm về tình đồng đội, nghĩa quân dân. Tất cả quá khứ hào hùng, đẹp đẽ ấy không bao giờ quên được.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn