Trận đánh cuối cùng của tiểu đội
Lúc ấy đơn vị đang tiến về phía Nam. Sau nhiều ngày hành quân thần tốc, chúng tôi nhận nhiệm vụ đánh chiếm một chốt địch án ngữ con đường dẫn vào thị xã. Nếu chốt ấy chưa bị phá, đoàn quân phía sau sẽ gặp khó khăn khi tiến lên.

Lúc ấy đơn vị đang tiến về phía Nam. Sau nhiều ngày hành quân thần tốc, chúng tôi nhận nhiệm vụ đánh chiếm một chốt địch án ngữ con đường dẫn vào thị xã. Nếu chốt ấy chưa bị phá, đoàn quân phía sau sẽ gặp khó khăn khi tiến lên.
Tiểu đội tôi có chín người. Người lớn tuổi nhất là anh Hòa, hai mươi bảy tuổi; trẻ nhất là Lâm, vừa tròn hai mươi. Còn tôi khi ấy mới hai mươi ba.
Chiều hôm trước, chúng tôi ém quân trong một vườn cao su. Tiểu đội trưởng trải tấm bản đồ nhỏ trên ba lô, dùng ngón tay chỉ từng vị trí:
— Ta đánh nhanh, gọn, mở được đường là hoàn thành nhiệm vụ.
Không ai hỏi thêm điều gì. Những ngày cuối chiến tranh, ai cũng hiểu thời gian quý hơn tất cả.
Đêm xuống rất yên. Chúng tôi kiểm tra lại súng đạn lần cuối. Lâm ngồi cạnh tôi, cười gượng:
— Anh này, biết đâu đây là trận cuối thật.
Tôi vỗ vai cậu:
— Ừ, đánh xong rồi về quê.
Cả hai đều muốn tin như thế.
Rạng sáng, tiểu đội bắt đầu tiếp cận mục tiêu. Sương phủ dày, cỏ ướt lạnh đến tận đầu gối. Chúng tôi đi cúi thấp, từng người cách nhau vài mét. Tim đập mạnh đến mức tôi nghe rõ trong tai mình.
Khi còn cách chốt địch không xa, pháo của ta bắn chế áp. Mặt đất rung lên, những quầng lửa đỏ bùng phía trước. Tiểu đội trưởng hô nhỏ:
— Xung phong!
Chúng tôi lao lên.
Tiếng súng nổ dồn dập. Đạn cày trên mặt đất tóe bụi. Tôi vừa bắn vừa chạy, chỉ kịp thấy bóng đồng đội phía trước. Anh Hòa ôm khẩu B40 lao lên đầu đội hình, bắn thẳng vào lô cốt bên phải. Một tiếng nổ dữ dội vang lên, hỏa điểm im bặt.
Nhưng ngay sau đó anh ngã xuống.
Tôi muốn chạy tới nhưng tiểu đội trưởng quát lớn:
— Tiếp tục tiến!
Trong chiến đấu, có những giây phút đau đớn đến mức không kịp dừng lại.
Chúng tôi chia làm hai mũi đánh thốc vào giữa chốt. Lâm chạy sát bên tôi, ném liền hai quả lựu đạn rồi cùng tôi vượt qua hàng rào đất. Khói súng cay xè, tiếng hô, tiếng nổ hòa vào nhau thành một âm thanh hỗn loạn.
Chỉ khoảng hai mươi phút, nhưng với tôi dài như cả một buổi.
Khi tiếng súng thưa dần, chúng tôi làm chủ được chốt địch.
Tiểu đội trưởng đứng giữa công sự, giọng khàn đặc:
— Mở được đường rồi!
Phía sau, tiếng xe và tiếng bộ đội của đơn vị lớn đang tiến lên mỗi lúc một gần.
Lúc ấy tôi mới chạy đến chỗ anh Hòa. Anh nằm nghiêng bên mép công sự, bàn tay vẫn còn giữ chặt khẩu súng. Trên môi anh như vẫn còn nét cười rất nhẹ.
Lâm đứng cạnh tôi, mắt đỏ hoe:
— Anh Hòa không kịp thấy thắng lợi rồi…
Tôi không trả lời được.
Chúng tôi cáng anh ra khỏi trận địa khi mặt trời vừa lên. Ánh nắng đầu ngày chiếu qua hàng cao su, vàng nhạt và yên bình đến lạ, như thể chiến tranh chưa từng đi qua nơi này.
Trưa hôm đó, đơn vị tiếp tục tiến quân. Trước khi rời chốt, tiểu đội trưởng nhìn chúng tôi và nói:
— Đây là trận cuối của tiểu đội mình. Từ nay con đường đã thông rồi.
Quả thật, đó là trận đánh cuối cùng chúng tôi tham gia trước ngày toàn thắng 30 tháng 4 năm 1975.
Trong chín người bước vào trận, tám người tiếp tục đi tới ngày hòa bình. Một người nằm lại bên con đường tiến quân.
Nhiều năm sau, mỗi lần gặp lại đồng đội, chúng tôi vẫn nhắc đến anh Hòa đầu tiên. Không phải vì anh lập chiến công lớn nhất, mà vì anh đã sống đúng như một người lính: đi đầu khi xung phong và ở lại phía sau cho đồng đội bước tiếp.
Đối với tôi, trận đánh cuối cùng của tiểu đội không phải là ký ức của tiếng súng, mà là ký ức của tình đồng đội, của sự hy sinh thầm lặng và của con đường dẫn đến hòa bình được mở bằng chính tuổi trẻ của những người lính năm ấy.



