TRẬN ĐÁNH CUỐI CÙNG VÀO ĐỒI A1
Đoạn hồi ký là bản báo cáo thực địa đầy kịch tính về cuộc tổng tấn công đồi A1 đêm mùng 6 rạng sáng mùng 7/5/1954 của một chiến sĩ thuộc Đại đội 316, Tiểu đoàn 249 (Trung đoàn 174). Từ một người lính dũng cảm nhận nhiệm vụ thay thế tiểu đội trưởng ngay trước giờ xuất kích, tác giả đã chỉ huy đơn vị vượt qua làn mưa đạn cối khốc liệt, mưu trí dùng đèn pin và thủ pháo làm chủ từng mét giao thông hào, thậm chí cởi bỏ quân phục đang cháy do mìn lân tinh để tiếp tục truy kích. Chiến công bắt sống toá
Đêm ngày 6 tháng 5 năm 1954, sau một thời gian chỉnh đốn lại tổ chức bổ sung và học tập, đơn vị lại được lệnh công kích vào đồi A1.
Tiểu đoàn 249 vẫn là đơn vị chủ công của e174 - đại dội 317 đánh chính diện và bên phải, đại đội 316 đánh bên trái đồi A1 mũi diện, đại đội 315 dự bị. Đại đội tôi là 316 lần này thay đổi tập kết về phía trái đồi Cháy (về phía Hồng Cúm) xung phong sẽ tiến sát đồi Cháy qua suối lên đồi A1. Trên phổ biến trận này có tiếng nổ lớn (đề phòng sức ép tất cả đều phải quay mặt về phía sau) sau tiếng nổ là lệnh xung phong. Khi xuất kích chiếm lĩnh trận địa sau đồi Cháy được hơn một giờ thì đồng chí Mùi A trưởng kêu đau bụng không đi chiến đấu được. Anh Trương Duyên đại đội trưởng và anh Hồng Giang chính trị viên đại đội gọi tôi lên và giao cho tôi chỉ huy tiểu đội, đồng chí Ngải là A phó. Thú thực là tôi rất lo, sau các anh động viên và tin tưởng, kèm theo tôi cũng có một số kinh nghiệm của các trận đánh trước nên tôi cũng yên tâm. Khoảng 21 giờ, một tiếng nổ trầm làm rung chuyển cả hầm, tôi ra ngoài nhìn về phía đồi A1, khói bộc phá đã trùm kín đồi A1 và lan sang đồi Cháy. Mãi tới 10 phút sau mới có lệnh xung phong. Lúc này địch ở một số nơi đã bắt đầu chống cự. Đơn vị tôi phải vòng qua phía trái đồi Cháy, lội qua suối nước tiến lên đồi A1. Hào dốc, trơn, ướt, đồng chí Điển y tá đại đội không lên được. Đơn vị lùi lại, cối 120 ly của địch bắn ở Hồng Cúm lên trúng giao thông hào làm tiểu đội tôi hy sinh mất 5 ngươi phía sau. Tôi đành phải kéo đồng chí Điển sang một bên, tôi cùng anh em vượt tiến lên được một đoạn đến hàng rào thì gặp anh Trương Duyên đại đội trưởng bị thương nặng nằm tại đó, tôi lấy băng băng cho anh, thì anh em bảo vượt lên đi, ở đây nguy hiểm lắm. Thế là tôi vẫy anh em lao lên, một đồng chí chạy trước tôi bị trúng đạn hy sinh. Tôi vượt qua nhanh chóng chiếm được đầu giao thông hào, tôi bắn và ném lựu đạn về phía trước. Địch chạy tán loạn, tôi nhảy xuống hào thì bị một quả mìn lân tinh nổ tung lên, cháy và khói bắt vào quần áo. Tôi lúng túng vì không có nước dội nên tôi nhanh chóng cởi bỏ quần áo ngoài và tiếp tục tiến. Địch bị dồn từ hai phía, ngay lúc đó có khoảng 5-7 tên xin hàng. Tôi cho anh em cảnh giới và nói "Hô lê manh" (giơ tay lên) và nói "đề dác mê vu" (bỏ súng xuống). Chúng vội vàng bỏ súng xuống và tháo nhanh thắt lưng. Tôi vẫy tay, chúng ngoan ngoãn đi về phía sau. Tôi và hai đồng chí nữa phát triển được độ 15-20m dọc hào thì chiếm được một lô cốt có khẩu trọng liên 12 ly 7 hướng bắn về phía đồi Cháy. Xong tiếp tục phát triển thì gặp giao thông hào có nắp lại có một đoạn trống. Hôm ấy tôi được trang bị đèn pin, tôi cứ bấm đèn loé lên dọc hào và bắn về phía trước và tiến chiếm từng đoạn. Lúc này địch chống cự mạnh hơn. Tôi vừa đánh vừa cho anh em nhặt thêm lựu đạn và đạn, mỗi người có túi lựu đạn và hàng chục băng đạn tuyn rồi cho một đồng chí bò lên cứ chỗ nào không có nắp thì ném lựu đạn xuống. Tôi thấy tiếng nổ phía trước là dọi đèn pin bắn và tiến theo dọc hào từng đoạn, địch bị thương vong nhiều. Tôi cùng hai đồng chí đánh hết đường hào phía trái đồi A1 thì đồng chí Hồng Giang chính trị viên đại đội và đồng chí trung đội phó Lương Văn Thể cùng 3 đồng chí nữa có một khẩu trung liên tắc vì đất nhét vào, bổ sung cho tôi. Lúc đó tôi ở dưới đường xe tăng nhìn chéo sang thì thấy một lô cốt ở gốc cây đa cụt, địch đang bắn mạnh về phía chúng tôi. Tôi đề nghị anh Hồng Giang cho đánh. Anh động viên chúng tôi cẩn thận. Tôi tổ chức đánh ngay, để hai đồng chí ném lựu đạn khói và yểm trợ. Khi lựu đạn khói nổ, tôi và hai đồng chí nữa lợi dụng khói mù nhanh chóng vượt lên qua đường xe tăng tiếp cận lô cốt, tiến sát đường chắn. Không để địch kịp trở tay, tôi và anh em nhanh chóng ném lựu đạn và tiến sát cửa hầm. Tôi ném thêm một quả lựu đạn và bắn luôn một băng đạn vào trong, địch chết ngổn ngang, có tên còn đeo tai nghe nằm chết trên giường bạt. Tôi soi đèn pin và lấy được một bản đồ Điện Biên Phủ và một máy ảnh. Vừa ra tới cửa hầm định quan sát tìm đường tiến, thì nghe có tiếng động trong hầm, tôi soi đèn pin thì ở góc hầm có miếng vải dù che có người. Tôi lấy khẩu súng trường lao báng về phía đó, thì có tiếng kêu: "Con xin hàng". Tôi hướng súng về phía đó và quát: "Ra ngay không tao bắn". Một tên vén miếng vải dù giơ tay ngoan ngoãn đi ra. Nó nói "Con là thông ngôn của tên quan Ba". Tôi hỏi ngay tên quan Ba ở đâu và còn hầm nào nữa không?
Lúc này tên thông ngôn nhanh chóng dẫn tôi đi ra cửa hầm có lối thông ra A3. Nó lật mấy cái ghế và vài bao cát thì cửa hầm lộ ra. Tôi cho hai đồng chí cảnh giới và bắt tên thông ngôn gọi hàng. Tôi bảo nó gọi bằng tiếng Pháp, là Việt Minh đã chiếm hết đồi A1, không hàng Việt Minh sẽ cho bộc phá xuống chết hết. Tên thông ngôn ấp úng, tôi cho một báng súng vào lưng và ném một quả thủ pháo xuống. Chúng ho xặc xụa, tên thông ngôn sợ quá gọi ngay. Lúc đầu chúng lên được 2-3 tên. Tên thông ngôn lại gọi, tôi ném lựu đạn xuống. Lúc này chúng kêu xin hàng, lại lên được 2 tên. Đến tên thứ 3, nó chạng tay ra cửa hầm và kêu bị thương nhờ kéo lên. Ngay lúc đó máy bay địch thả đèn dù sáng rực, tôi nhìn thấy ở nách tên bị thương có một nòng súng đang đưa lên chưa kịp bắn, tôi nhanh chóng bắn ngay tên ngăn cửa hầm chết, đè luôn nòng súng xuống. Tôi lại ném tiếp lựu đạn xuống và thủ pháo. Chúng ho nhiều và kêu xin hàng. Lần này chúng lên rất nhanh, độ 4-5 tên. Tên đi sau đội mũ đỏ, tôi cho là tên quan Ba, tôi để riêng nó ra và cho đồng chí Điệp giữ nó. Sau đó còn 2-3 tên nữa lên hàng nốt. Tôi bảo tên thông ngôn hỏi xem còn nữa không? Nó hỏi tên sau cùng rồi nói ở dưới chết một số, đến đó là hết. Tôi cho cảnh giới, lệnh cho đồng chí Điệp dẫn tên quan Ba và tên thông ngôn về chỗ anh Hồng Giang ở dưới hầm qua đường xe tăng gần đó, báo cáo chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ và chờ lệnh.
Lúc đó khoảng 4 giờ sáng, sau đó trung đội đồng chí Ba Sào thuộc đại đội 315 cũng tới, khoảng 4 giờ 30 đến 5 giờ thì anh Hồng Giang gọi tôi và đồng chí Lương Văn Thể về hầm chỉ huy.
Đồng chí Hồng Giang chính trị viên đại đội 316 thay mặt chi bộ tuyên bố kết nạp Đảng cho anh Lương Văn Thể và tôi ngay mặt trận. Tuyên bố đề bạt tôi chính thức là tiểu đội trưởng và đề nghị lên trên tặng thưởng huân chương chiến sỹ hạng nhất cho tôi. Quyết định được liên lạc mang ngay về tiểu đoàn. Khi đồng chí liên lạc về, nói là được trên khen ngợi đơn vị chúng tôi. Tôi lại về vị trí chiến đấu thì gặp anh Lê Sơn tiểu đoàn phó cũng đã đến. Chúng tôi đang chờ lệnh xuống A3 và Mường Thanh. Đến 6 giờ sáng ngày 7/5/1954 tôi được lệnh bàn giao trận địa cho C315 về phía sau tắm rửa rồi lên gặp tiểu đoàn và trung đoàn. Khi tôi lên đến tiểu đoàn thì đã có anh Châu C trưởng C317 và anh Thạch là B phó đại đội chủ công, còn tôi thuộc C316 tiểu đội trưởng đánh giao thông hào có nắp và lô cốt cuối cùng gốc cây đa cụt. Sau trên căn dặn anh Châu dẫn chúng tôi lên trung đoàn và đại đoàn. Lên đến đại đoàn gặp anh Chu Huy Mân và anh Lê Quảng Ba thì có anh Hồ Hải Nam tiểu đoàn trưởng và anh Thưởng của E98 đơn vị đánh đồi Mâm Xôi và đồi Châu Ún cũng có mặt. Sau đó các đồng chí động viên chúng tôi và giao cho đồng chí Hồ Hải Nam dẫn chúng tôi lên Bộ tham mưu và sở chỉ huy chiến dịch tại Mường Phăng.
Khi gặp có: anh Văn (Đại tướng Võ Nguyên Giáp), anh Lê Liêm, anh Hoàng Văn Thái, anh Lê Quang Đạo.
Chiều hôm gặp các đồng chí trên còn chiêu đãi chúng tôi một bữa. Hôm sau từng người báo cáo trên sa bàn, Đại tướng và các đồng chí nghe xong, khen ngợi đơn vị chúng tôi và rút kinh nghiệm. Khoảng trưa ngày 8/5/1954 thì Đại đoàn 312 dẫn tướng Đờ Cát và ban tham mưu của chúng vào Mường Phăng. Ngày 9/5/1954 chúng tôi dự lễ mít tinh mừng chiến thắng rồi ra về. Về tới đơn vị, tôi lại được lệnh ở lại Điện Biên Phủ phối hợp với đơn vị bạn quay phim diễn lại trận đánh vào đồi A1 và tiến xuống Mường Thanh rồi cắm cờ tại hầm Đờ Cát. Hai mươi ngày sau tôi mới rời Điện Biên Phủ về đơn vị tại Sánh Lược thuộc huyện Thọ Xuân tỉnh Thanh Hóa. Lúc này đơn vị đã mừng công xong đang học tập.
Ngày 20/7/1954 chúng tôi được phổ biến lệnh đình chiến lập lại hòa bình ở Đông Dương. Thế là chiến tranh chống Pháp đã chấm dứt.


