TRẬN ĐÁNH ĐÊM MỪNG SINH NHẬT ĐẢNG
Đoạn nội dung khắc họa chân dung Anh hùng phi công Lâm Văn Lích – người được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân ngày 1/1/1967 – không chỉ với những chiến công trên bầu trời mà còn ở quá trình công tác, cống hiến bền bỉ sau chiến tranh. Từ các cương vị chỉ huy trong Quân chủng Phòng không – Không quân đến khi chuyển ngành về TP. Hồ Chí Minh, ông đã mạnh dạn đổi mới phương thức quản lý, tiên phong liên doanh với nước ngoài dưới sự ủng hộ của Bí thư Thành ủy Nguyễn Văn Linh,
Đại tá phi công Lâm Văn Lích, Anh hùng lựclượng vũ trang nhân dân đã từng bắn rơi 4 máy bay của đế quốc Mỹ. Nhân dịp kỷ niệm 75 nămngày thành lập Đảng, tôi đã có cuộc trò chuyệnvới ông về trận đành mà đúng vào ngày 3-2-1966, một mình ông xuất hích giữa đêm tối mịt mùng và trong vòng chưa đầy 2 phút bắn rơi tại chỗ 2 chiếc máy bay Mỹ...
+ Ra đi từ mũi Cà Mau đến trường không quân số 3
Ông Lâm Văn Lích sinh năm 1932, tại xã Định Thành, huyện Gia Rai, tỉnh Bạc Liêu (nay là xã Tắc Vân thành phố Cà Mau), trong gia đình mẹ Việt, bố gốc người Hoa. Từ xa xưa, các cụ tổ nhà ông từ làm nghề đi biển đã di chuyển từ Trung Quốc xuống khẩn hoang vùng đất Mũi phương Nam. Vùng đất này ngày còn rất hoang sơ, rừng rậm với các loài thú dừ, rắn rết rình dập con người, buộc cho người đất Mũi phải có tinh thần dũng cảm, ý chí quật cường. Người đất Mũi đã tự đứng lên tham gia khởi nghĩa cướp chính quyền cách mạng tháng Tám năm 1954, ảnh hưởng của gia đình và dòng họ đầu năm 1946 khi mới 13 tuổi ông Lâm Văn Lích đã tham gia hoạt động trinh sát cho đội du kích xã. ông đã len lỏi theo dõi quy luật hoạt động của tên ác ôn trong vùng, để báo du kích trừ khử hắn.
Năm 1949, ông được vào đại đội 554 địa phương quân tỉnh Bạc Liêu, tham gia các trận chống càn của Pháp vào căn cứ của ta. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, bộ đội Nam bộ cũng góp phần kìm chân địch, bao vây các đồn bốt của chúng để chúng không đưa quân chi viện cho chiến trường Điện Biên Phủ. Có một lần, tiểu đội ông chỉ có mấy người, bao vây đồn Đốc Bét với vài phát súng thị uy, thế mà tên đồn trưởng đã hoảng sợ giơ cờ trắng ra hàng. ông được kết nạp vào Đảng năm 1953. Đơn vị ông đã vào tiếp quản tuyến tập kết tạm thời của bộ đội miền Nam ra Bắc và là nơi trao trả tù binh giữa ta với Pháp thuộc thành phố Cà Mau ngày nay. ông theo chuyến tàu gần cuối cùng tập kết ra Bắc với cương vị trung đội phó của đại đội 3 tiểu đoàn 9 trung đoàn 3 miền Tây Nam bộ.
Giữa năm 1955, ông được trên cho đi học ở trường văn hóa Bộ Quốc phòng và nhờ có sức khỏe tốt nên ông được tuyển chọn học lái máy bay tại trường Không quân số 3 ở Liêu Ninh, Trung Quốc. Đây là khóa 1 đầu tiên của Không quân nhân dân Việt Nam. Cùng với ông có các ông Đào Đình Luyện, Trần Hanh, Phạm Ngọc Lan, Nguyễn Ngọc Độ, Nguyễn Nhật Chiêu ... Trong quá trình học tập, Bác Hồ có sang Trung Quốc gửi tặng cho các phi công 2 chiếc huy hiệu của Người. Đoàn trưởng Đào Đình Luyện và ông được anh em bình chọn nhận hai chiếc huy hiệu này, mà ngày nay ông vẫn lưu giữ như một "tài sản" quý giá. Sau khi học xong, ông đượctham gia biên đội đầu tiên cùng trung đoàn trưởng ĐàoĐình Luyện và phi công Phạm Ngọc Lan hạ cánh xuống sân bay Nội Bài giữa những ngày khói lửa của cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ.
Trở về nước với cương vị Chủ nhiệm kỹ thuật bay trung đoàn không quân 921 Quân chủng Phòng không - Không quân, ông đã cùng đồng đội kiên trì học tập thêm một số khoa mục để có thể chiến đấu trong điều kiện khí tượng và địa hình phức tạp. Ngày 17 tháng 6 năm 1965, biên đội của ông gồm: Lích, Long, Tinh, Chiêu cất cánh từ sân bay Nội Bài chặn đánh địch tại Hồi Xuân - Thanh Hóa. Ông đã chỉ huy biên đội chia làm hai mũi, một mũi đánh đuổi, một mũi đánh phía trên đội hình địch. Bất ngờ thấy một chiếc máy bay địch đang bám đuôi mình, Lâm Văn Lích đã bình tĩnh, dũng cảm lái máy bay quay lại đối đầu với địch, tới cự ly nổ súng, ông đã bắn rơi chiếc máy bay địch. Trong ba phút chiến đấu cả biên đội bắn rơi 2 máy bay, bắn bị thương 2 chiếc khác. Số máy bay địch còn lại hốt hoảng bỏ chạy. Trước khi quay trở về ông thấy một chiếc dù của một đồng chí phi công ta đang lơ lửng trên không, lúc này các đồng chí khác trong biên đội đã trở về, tuy nguy hiểm một mình ông vẫn ở lại bay yểm hộ cho đồng chí xuống tới đất rồi quay về.
Đêm 3 tháng 2 năm 1966 là một đêm không bao giờ quên trong tâm trí của ông, ấy là đêm đã lập nên chiến công vang dội dâng lên ngày sinh nhật Đảng Lao động Việt Nam. Đêm ấy, phi công Lâm Văn Lích được phân công trực ban sẵn sàng chiến đấu. Sở chỉ huy báo động có máy bay địch vào xâm phạm vùng trời của ta. Cả sân bay nhộn nhịp chuẩn bị cho ông cất cánh, những người thợ máy kiểm tra lại lần cuối, xe nạp điện đã sẵn sàng. Chiếc máy bay MIG – 17PF cất cánh và lao vút lên bầu trời đêm, phi công Lâm Văn Lích hồi hộp khó tả, vì đây là lần đầu tiên đánh đêm của không quân ta. Ông được sở chỉ huy các cấp dưới đất dẫn bay vào tiếp cận mục tiêu. Ban ngày trời trong xanh, phi công có thể phát hiện máy bay địch bằng mắt thường hơn 10 cây số, nhưng ban đêm chỉ còn trông chờ vào ra đa trên sân bay, nhưng ra đa phải khi nào vào gần địch mới được mở, vì mở sớm địch sẽ phát hiện ngay, vì trên máy bay địch có thiết bị phát hiện sóng ra đa của ta. Khi máy bay đến Hòa Bình, Mộc Châu ông đã mở ra đa và phát hiện máy bay địch ở cự ly 8km. Ông lập tức cho máy bay tăng tốc đuổi theo. Trên máy bay MIG-17PF có 3 khẩu pháo 23 ly, có ra đa ngắm bắn. Ông quan sát đưa máy bay mình vào đúng độ cao máy bay địch phía trước khoảng 5000m, rồi đưa mục tiêu vào vòng ngắm. Mục tiêu đã rõ, cự ly khoảng 800m, ông tăng tốc và định tiếp cận khoảng 400m thì bắn, nhưng thật bất ngờ mục tiêu trên màn ra đa bỗng chao đảo không ổn định, rồi biến mất. Lúc đó ông không hiểu nguyên nhân tại sao, nhưng giờ đây ngẫm lại, ông cho rằng có thể 2 máy bay địch đi sát nhau quá, nên ra đa không biết phải bám mục tiêu nào và hơn nữa ông tăng tốc độ quá lớn nên không kịp xử trí khi tiếp cận địch. Lúc ấy, trong máy bay của ông có các đèn báo nguy hiểm và tiếng chuông báo hiệu sắp va chạm máy bay với nhau. Thoáng bối rối trong khi luyện tập, nếu tình huống 2 máy bay sắp va nhau thì phi công phải nhanh chóng thoát ly. Nhưng lúc này Lâm Văn Lích quyết định lao cả máy bay vào địch làm một cảm tử quân vì Tổ quốc. Ý chí của người phi công lúc ấy mong muốn tiêu diệt máy bay địch bằng mọi giá dù hy sinh tính mạng để lập công dâng lên Đảng kính yêu. Nhưng lao mãi mà không gặp máy bay địch, ông nhìn ra ngoài trời đêm thì phát hiện máy bay địch lù lù dưới cánh mình khoảng 8m. Lúc đầu ông định chui xuống đạp máy bay vào cánh máy bay địch, nơi chỗ hiểm yếu dễ rơi và sẵn sàng nhảy dù nhưng sau đó một ý nghĩ chợt lóe ra, sao mình không lùi lại để dùng súng bắn nó? Nghĩ vậy ông giảm tốc độ lùi lại cách chừng 10m, ông không dám lùi xa vì sợ mất mục tiêu địch trong đêm. ông từ từ cho máy bay xuống thấp ngang tầm máy bay địch và đưa vào ngắm bằng mắt mục tiêu to bè, sẵn sàng bóp cò. Vừa lúc đó một luồng khí phản lực của máy bay địch phụt ra làm máy bay của ông chao đảo lật nhào. Đầu ông lắc lư đập cả vào nắp buồng lái. ông choáng váng không biết trạng thái của mình ra sao, máy bay không điều khiển được rơi xuống. ông tưởng máy bay bị trúng đạn của địch. Nhưng rơi được một lúc độ cao khảng 4000m, ông thử lại điều khiển, thì thấy máy bay vẫn bình thường. Nhớ lại hướng bay bám địch, ông tăng ga ngóc lên đi tìm địch. Quan sát lại màn ra đa, ông phát hiện mục tiêu cách 3km. ông tăng tốc đuổi theo và quyết định kỳ này có cơ hội là bắn liền, không để lỡ thời cơ nữa. Và một may mắn đã đến, không biết có phải vì sợ va chạm vào nhau hay không? Mà hai chiếc máy bay địch trước mắt bật đèn nhấp nháy thông tin với nhau. Lúc đó ông mới biết phía trước mình là hai chiếc máy bay địch. Quan sát chúng bằng ra đa và mắt thường, Lâm Văn Lích tăng tốc bám sát máy bay địch. Lần này ông không tăng tốc quá lớn vì khi cự ly khoảng 600m, ông chọn một chiếc máy bay bên trái, ngắm bằng mắt giữa hai chiếc đèn đuôi và cánh máy bay địch bóp cò thật dài, để máy bay địch nổ tan tác trên bầu trời. Luồng đạn đỏ rực xé màn đêm lao vào máy bay địch. Khi dừng hẳn, tự nhiên không thấy chiếc máy bay bên trái đâu, còn chiếc bên phải đang chạy trốn, nhưng nó cũng quên tắt đèn. ông lập tức nghiêng cánh, vòng đuổi theo. Cùng lúc đó ông nhìn thấy chiếc máy bay kia đang bốc cháy lao nhanh xuống đất. Trong lòng tăng thêm niềm tin, ông ngắm ngay chiếc thứ hai và bắn xối xả. Khoảng cách giữa hai lần bắn thực ra chỉ hơn 1 phút, còn trận đánh chỉ hơn 2 phút. Luồng đạn đỏ rực cắm thẳng vào mục tiêu, chiếc máy bay bùng lên thành ngọn đuốc cắm đầu xuống.
Cảm giác của ông lúc ấy lâng lâng, dạt dào, đến nỗi sở chỉ huy thông báo có địch, báo ông quay về ngay ông cũng không để ý, vì ông còn cuốn theo men thắng trận, ông lượn quay lại để xem cho rõ hình ảnh hai chiếc máy bay như hai cục lửa đỏ rực rơi xuống đất phía Tây Hòa Bình. Giữa bầu trời bao la mênh mông, ông là người duy nhất nhìn thấy những máy bay địch rơi xuống đất bùng lên ngọn lửa đỏ. Đó là giây phút hạnh phúc nhất trên đời của người đất Mũi qua bao tháng ngày rèn luyện vất vả. ông nhớ đến Bác Hồ, nhớ lần Bác đến thăm trung đoàn không quân tiêm kích 921 tại sân bay Nội Bài vào ngày 9 tháng 11 năm 1964, Bác đã dừng lại hồi lâu khi nghe ông giới thiêu: "Cháu là Lâm Văn Lích, quê ở Cà Mau”. Bác đã hỏi chuyện và mong ông xứng đáng với truyền thống anh hùng của miền Nam thành đồng Tổ quốc, tiêu diệt nhiều máy bay Mỹ. Thế thì hôm nay, một mình ông đã chiến đấu với nhiều máy bay địch, đã dũng cảm bình tĩnh bắn rơi 2 máy bay A1 của hải quân Mỹ.
Khi ông thoát ly khỏi khu vực, thì đèn báo hiệu có máy bay địch bám đằng sau. ông lập tức làm động tác chui xuống tránh tầm kiểm soát của địch. Sở chỉ huy yêu cầu ông bay về khu vực trận địa tên lửa của ta, để mặt đất sẵn sàng hỗ trợ. Đến lúc tín hiệu hỏi trả lời của trận địa tên lửa nhấp nháy, ông sung sướng tin rằng mặt đất sẽ bảo vệ ông. Phi công Lâm Văn Lích xin về hạ cánh, đèn đường băng sân bay Nội Bài rực sáng. ông hạ cánh an toàn trong vòng tay của đồng đội bạn bè. Chính ủy Đặng Tính ôm chầm lấy ông và chúc mừng.
- Các chòi quan sát mặt đất của ta đã báo về hai chiếc máy bay rơi. Đây thực sự là món quà của bộ đội Phòng không - Không quân dâng lên Đảng, Bác kính yêu nhân kỷ niệm 36 năm ngày thành lập Đảng.
Ngày 1 tháng 1 năm 1967, phi công Lâm Văn Lích được Nhà nước phong tặng danh hiệu "Anh hùng lựclượng vũ trang nhân dân". ông đã trải qua nhiều cương vị khác nhau trong Quân chủng, trung đoàn phó, trung đoàn trưởng trung đoàn không quân 923, Hiệu trưởng trường Không quân 910, Hiệu phó trường Trung cao Không quân. Năm 1985, ông chuyển ngành về Ban tổ chức thành ủy thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó được trên tín nhiệm đưa ông sang làm Tổng giám đốc liên hiệp xí nghiệp Mô tô - Xe đạp thành phố Hồ Chí Minh. Tình hình liên hiệp xí nghiệp khi ông về hết sức rối ren, làm ăn thua lỗ, cán bộ tham ô, công nhân không có việclàm ... ông đã đưa cách làm ăn mới theo cơ chế thị trường vào trong liên hiệp xí nghiệp với sự ủng hộ của Bí thư Thành ủy lúc bấy giờ là ông Nguyễn Văn Linh. Người đảng viên, chiến sĩ trở về với đời thường làm kinh tế thật không đơn giản chút nào, nhiều ý kiến phản đốivới cách làm mới của ông. Nhưng ông đã dũng cảm tiên phong trong liên doanh với nước ngoài. Công ty liên doanh VICO (Việt Nam - Hồng Kông) là liên doanh đầu tiên của thành phố Hồ Chí Minh với nước ngoài, đến nay vẫn hoạt động có hiệu quả, sản xuất được các mặt hàng nông ngư cơ khí như máy cày, bừa, xới, bơm nước , . . Chiếm phần lớn thị trường ở miền Nam, phục vụ đắc lực cho ngành nông nghiệp .
Vợ của ông là bác sĩ Đường Duy Hiền, bà cũng là người con miền Nam tập kết ra Bắc. ông Lích quen bà Hiền trong dịp về phép tết năm 1959, khi ấy bà mới là y tá bệnh viện Hải Phòng. Đám cưới của ông bà được ông Đào Đình Luyện làm chủ hôn (ông Đào Đình Luyện sau này là Thượng tướng thứ trưởng Bộ Quốc phòng - Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam). ông bà có 2 con trai và 1 con gái. ông Lâm Văn Lích đã nghỉ hưu từ năm 1994, nhưng vẫn tham gia cố vấn cho công ty liên doanh VICO. Anh hùng trở về với đời thường vẫn giữ được phẩm chất và ý chí của người chiến sĩ cách mạng.


